3/02/2015

Quốc Hận 30-4, Thương Tiếc Những Nữ Anh Thư Tử Chiến với Giặc Thù Cộng sản
Phạm Phong Dinh
Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt.
NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH THỜI LỬA BINH



Trong cuộc chiến tranh bảo quốc chống ngăn cơn sóng đỏ của cộng sản quốc tế với đạo quân tay sai tiền kích của chúng là binh đội cộng sản Bắc Việt và Việt cộng miền Nam, khuôn mặt của những người vợ lính dường như đã rất mờ nhạt đằng sau chất muối trắng đẫm đầy trên lưng áo của những người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Nhưng chiến tranh càng nặng độ thì hình ảnh những người chị vô danh ấy đã dần hiện rõ trong một ánh sáng diệu kỳ, mà chúng ta chỉ có thể cúi người thật sâu xuống để tôn vinh và ngợi ca. Ðó là những người lính không có vũ khí, không số quân, không tiền lương, không cả lương thực hành quân, nhưng là những người lính tỏa hào quang chói sáng nhất trong những hoàn cảnh nghiệt ngã thắt ngặt nhất, mà đã góp phần đem chiến thắng quyết định trên chiến trường.

Ðó là NHỮNG NGƯỜI VỢ LÍNH, những người chị cao cả mà đã cùng chồng dấn mình trong cơn bão lửa của chiến tranh, cùng chia sẻ cái chết, có khi các chị hy sinh trước cả các anh. Những cái chết anh dũng trong âm thầm đó nào ai biết được. Không có Lá Quốc Kỳ Vàng Ba Sọc Ðỏ phủ trên chiếc quan tài được ghép thành từ những mảnh ván đơn sơ, không có chiếc huy chương Anh Dũng Bội Tinh Với Nhành Dương Liễu, không cả tiếng kèn truy điệu ai oán.

Những người lính đóng đồn cùng vợ con của các anh cùng sống chui rúc trong những cái hầm tối tăm ngột ngạt, dưới những những cái hố nhỏ ngập đầy nước. Những người lính nghèo nàn, rách rưới và tội nghiệp co ro ôm súng gác giặc và đánh giặc trong cái lạnh xé thịt của đêm. Ăn uống thì đạm bạc đến không có gì đạm bạc hơn được nữa. Một cái nồi cơm méo mó, với vài con cá nhỏ kho trong chất nước mắm hạng bét mặn chát những muối, một dĩa rau muống ruộng hay rau đắng xơ xác, mà có thể tìm thấy mọc đầy khắp những vũng nước đọng trên những cánh dồng lầy.

Cả gia đình người lính Ðịa Phương Quân hay Nghĩa Quân quây quần chung quanh mâm cơm đơn sơ đó chấp nhận sự thua thiệt của mình. Không than thở, không ta thán và vui lòng với niềm hạnh phúc mong manh của mình. Một năm 365 ngày, mười năm, hai mươi năm, cho đến ngày cuối cùng của cuộc chiến, hơn bảy ngàn đêm những người chị ấy chưa từng bao giờ biết ngủ yên giấc là gì. Chị thao thức đến nửa khuya, lắng nghe tiếng đại bác vọng ì ầm về thành phố từ phía mặt trận có anh ở đó, chị thổn thức nguyện cầu cho anh được bình yên, để anh có một ngày được về với chị và con, dù chỉ là những khoảnh khắc về phép thật quá hiếm hoi. Hay nếu chị cùng chồng trấn thủ lưu đồn, anh chiến đấu cơ cực như thế nào, anh ăn ngủ chập chờn ra sao, thì chị cũng cơ cực và chập chờn ngần ấy.

CHỊ PHẠM THỊ THÀNG, NỮ ANH THƯ ÐẤT GÒ CÔNG

Người vợ lính ở tiền đồn cáng đáng cùng một lúc hai công việc, mà công việc nào cũng biểu hiện hình ảnh và đức tính cao quí của người phụ nữ Việt Nam. Thứ nhất, đức tính đảm đang tận tụy của người vợ, người đàn bà Việt Nam quán xuyến chuyện gia đình, trông nom dạy dỗ con cái và nấu nướng những bữa ăn.

Thứ hai, khi quân giặc đã thấy dẫy đầy ngoài những vòng rào kẽm gai, thì những người nữ chiến sĩ chưa từng một ngày được huấn luyện ở quân trường ấy đã chiến đấu như bất cứ người lính chuyên nghiệp nào. Chị cũng biết dùng máy truyền tin gọi Pháo Binh, chị biết sử dụng thành thạo mọi loại súng trong đồn có, chị ném lựu đạn ác liệt và chính xác, tấm thân nhỏ bé của chị oằn nặng dưới những thùng đạn tiếp tế. Và chị cũng sẵn sàng nằm gói thân thiên thu trong chiếc poncho, để tên chị vĩnh viễn đi vào lịch sử. Chúng ta có nhiều người chị như vậy lắm. Ở ngay tại đồng Giồng Ðình này thì ít nhất cũng có những chị Phạm Thị Thàng và Trần Thị Tâm.
Ðêm 2.10.1965, với âm mưu làm xáo trộn hệ thống tiếp viện của những đơn vị diện địa trong khu vực Tiền Giang để dễ dàng thanh toán mục tiêu chính nào đó, chỉ trong một đêm Việt cộng đã tổ chức tấn công 11 vị trí của quân ta với quân số thật lớn. Ðồn Giồng Ðình thuộc tỉnh Gò Công cũng bị áp lực rất nặng của quân địch khi hứng chịu cuộc cường kích của 300 lính cộng.

Ðây là một lực lượng chính qui Việt cộng với hỏa lực rất mạnh, chúng quyết tâm hủy diệt đồn Giồng Ðình nhỏ bé, mà chỉ có vỏn vẹn một Trung Ðội Nghĩa Quân 24 tay súng trấn giữ. Là những con ác quỷ hung tợn và thâm độc, lực lượng cộng quân đã bố trí ở hướng có nhiều nhà dân chúng, vừa làm bia đỡ đạn cho chúng, vừa ngoác miệng tuyên truyền gây căm thù nếu quân ta bắn trả. Người dân, nhất là những ông bà lão già, đàn bà và trẻ con luôn luôn là những cái bia sống đỡ đạn cho bọn giặc hèn nhát gọi là những "người giải phóng". Với quân số ấy, vũ khí hùng hậu ấy mà chúng cũng ngán ngại 24 chiến sĩ Nghĩa Quân Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đến nỗi phải cậy nhờ đến máu thịt của đồng bào để có cơ may thủ thắng, thì còn từ ngữ nào, hình dung từ tồi tệ nhất nào để diễn tả bộ mặt cùng hung cực ác rất đốn mạt của cộng sản nữa không.

Ðúng 2 giờ đêm, quân cộng dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Thượng Úy Sáu Bích, đã mở cuộc tấn công từ hai mặt đánh vào Giồng Ðình, với sự tin tưởng điên rồ, rằng chúng sẽ thanh toán cái tiền đồn nhỏ xíu này trong một thời gian ngắn. Chiến thắng dường như là chắc chắn, vì với quân số mười lần hơn, mười đè một, dẫu chúng có thí chín tên thì cũng có thể hạ gục được một chiến sĩ Nghĩa Quân Giồng Ðình.

Trên lý thuyết, thì giả thiết đó dường như đúng. Nhưng trên trận địa, người lính Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa luôn luôn thể hiện những chuyện phi thường, mà rất hằng hiện hữu trên bất kỳ chiến trường nào, quả thật cộng quân đã chọn lầm mục tiêu. Sau ba đợt tấn công hung bạo, tưởng gạch đá cũng phải nát thành tro, đã chiếm được 2 trong số 3 lô cốt trong đồn, cộng quân vẫn phải rút trở ra. Cuộc tấn công lần thứ tư được hối hả tổ chức và thực hiện, với quyết tâm san bằng Giồng Ðình. Nhưng liệu 24 chiến sĩ Nghĩa Quân có cho phép điều đó không. Câu trả lời là không, không chỉ đến từ ý chí hừng hực tử thủ của các anh, mà còn là từ đôi bàn tay yếu mềm của những người vợ lính đang sống cùng với chồng con của các chị trong đồn. Phải, cuộc chiến thắng cuối cùng của Nghĩa Quân đồn Giồng Ðình sẽ không thể thực hiện được, nếu không có sự góp sức chiến đấu của những người chị này. Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Không phải chỉ những người chị dũng cảm ấy không thôi, mà cả trẻ con cũng đánh.

Ðồn Giồng Ðình nằm ở một vùng thôn ấp hẻo lánh trong tỉnh Gò Công, do một Trung Ðội Nghĩa Quân trấn giữ, với thành phần chỉ huy gồm có anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, anh Lê Văn Hùng, Ðồn Phó và anh Lê Văn Mẫn, âm thoại viên. Trấn thủ một vị trí hung hiểm như vậy, không chỉ có 24 tay súng mà đã đủ, nên tất cả những người vợ lính trong đồn đều đã được chồng huấn luyện sử dụng thành thạo những loại máy móc truyền tin và vũ khí. Như vậy số tay súng đã được nhân lên gấp đôi.

Trong nhiều trường hợp, đến những giây phút tử sinh tuyệt vọng nhất, những em bé cũng tham chiến, khi các em gan dạ bò dưới lưới đạn của giặc để đem tiếp tế đến cho cha và mẹ. Không ai buộc những người vợ lính, con lính cầm súng đánh địch. Nhưng chính những người vợ lính, con lính ấy làm sao có thể ẩn náu tìm cái sống trong khi chồng và cha của họ sắp ngã gục ngoài chiến hào.

Khi chấm dứt đợt tấn công thứ ba, địch tạm rút để tái tổ chức tấn công, thì tình trạng bên trong đồn Giồng Ðình đã khá là bi đát. Ðã có đến 16 chiến sĩ Nghĩa Quân bị thương, chỉ còn 8 Nghĩa Quân còn chiến đấu được. Âm thoại viên Lê Văn Mẫn bị thương ở đầu trong lúc anh đang cố gắng gọi máy về Tiểu Khu.

Anh Mẫn gục xuống buông chiếc ống liên hợp. Chị Trần Thị Tâm, vợ anh Mẫn vội đặt con bên cạnh anh và chộp lấy ống liên hợp. Liên lạc được tiếp nối, chị Tâm nghiễm nhiên trở thành một âm thoại viên, và là cứu tinh của đồn Giồng Ðình. Ở một góc đồn, anh Lê Văn Hùng và chị Phạm Thị Thàng, vợ anh, và hai đứa con nhỏ đang phải đối đầu với một lực lượng quá đông của địch.

Nhìn ra ngoài hàng rào kẽm gai, giặc đã đã tràn vào đen ngòm như những con quái vật hung hãn. Anh Hùng chỉ còn trong tay cây tiểu liên Thompson và 16 trái lựu đạn, chị Thàng có một khẩu Carbine. Thật tội nghiệp cho hai đứa nhỏ, sức ép của bộc phá và súng SKZ của Việt cộng bắn vào quá gần, các em không còn khóc được nữa mà đã nằm bất động dưới chân hai vợ chồng anh Hùng. Chị Thàng thì thào:

- Chúng đang phá lô cốt chánh, để em bắn yểm trợ anh bò về giữ. Lô cốt mất là đồn mình mất, em nằm tại đây giữ mấy đứa nhỏ, nếu chúng tràn vào thì... thì... em ném lựu đạn ra, có thể cầm cự đến sáng được.

Anh Hùng ngần ngừ, anh rưng rưng nhìn vợ con, rồi nhìn về phía lô cốt. Tiếng súng từ lô cốt cuối cùng đã yếu ớt lắm, có lẽ mấy Nghĩa Quân cố thủ ở đó đã kiệt quệ quá rồi. Số phận của anh Thi Ðồn Trưởng thế nào. Anh Hùng lắc đầu không dám nghĩ đến chuyện xấu nhất đã xảy ra cho đồng đội. Nhưng nếu Việt cộng chiếm được lô cốt ấy, thì coi như đánh dấu chấm hết cuộc kháng cự. Anh Hùng phải quyết định, dù quyết định đó quá đau xót, là bỏ lại vợ con, mà trong lúc quân giặc đã hò hét ngay sát bên rồi:

- Anh chạy theo giao thông hào, em bắn yểm trợ cho anh.

Anh Hùng nhìn chị Thàng và hai đứa nhỏ lần cuối cùng. Trong lòng anh quặn lên một nỗi bi thương. Trời ơi, vợ con mình. Hai đứa nhỏ chẳng biết còn sống hay đã chết. Anh phóng mình xuống hào chạy băng băng về hướng lô cốt. Cây Carbine trên tay chị Thàng run lên, những tràng đạn rải vào những cái bóng đen đã quá gần. Anh Hùng đã bò vào được lô cốt, giữa những tiếng đạn nổ rền trời. May quá, anh Thi trưởng đồn vẫn nguyên vẹn. Súng SKZ của địch thụt ầm ầm, nhưng anh Hùng vẫn có thể nghe được từng tiếng lựu đạn nổ từ phía công sự của chị Thàng.

Nước mắt anh rơi lả chả trên nền đất. Anh đã đếm được đến con số 15, mà tiếng súng của địch vẫn nỗ dòn dã ngay sát tuyến phòng thủ của chị Thàng. Anh biết giây phút định mệnh thảm thiết nhất cũng đã điểm. Chị Thàng sẽ làm gì với quả lựu đạn thứ 16. Anh Hùng đau đớn rên lên trong lòng : “Chỉ còn một trái lựu đạn nữa thôi, làm sao em cầm cự được đến sáng”. Chính anh cũng không có được một giây để nghĩ tiếp cái gì sẽ xảy đến cho vợ con mình, vì dưới chân lô cốt anh tử thủ đã đông nghẹt quân giặc. Ðủ mọi thứ loại súng nỗ chát chúa khắp đồn, anh Hùng không biết chắc là mình đã nghe được tiếng nổ của trái lựu đạn thứ 16 chưa.

Cuộc chiến đấu đã kéo dài được một tiếng đồng hồ, quân địch đã phá được lớp kẽm gai cuối cùng và sắp tràn ngập đồn Giồng Ðình. Lúc đó là 3 giờ sáng rạng ngày 2.10.1965. Tình hình đã quá nguy ngập. Anh Nguyễn Văn Thi, Ðồn Trưởng, quyết định thà hy sinh còn hơn là để đồn lọt vào tay địch. Anh giật lấy ống liên hợp từ tay chị Tâm và thét lớn:

- Hãy bắn lên đầu chúng tôi ! Bắn vào giữa đồn... Hai lô cốt thứ nhứt và thứ hai đã thất thủ. Tụi tui ở lô cốt thứ ba. Hãy bắn lên trên đầu chúng tôi, Việt cộng đông lắm. Bắn đi... bắn...

Sau tiếng gọi thống thiết của người Ðồn Trưởng, Pháo Binh Tiểu Khu Gò Công lập tức bắn vào đồn với loại đầu nổ cao. Loại đạn đặc biệt này nổ khi cách mặt đất chừng 4, 5 thước, rất hữu hiệu tiêu diệt biển người địch, quân ta núp trong lô cốt vẫn có hy vọng sống sót. Những cái bóng đen nhập nhoạng dưới ánh sáng hỏa châu văng tung tóe, tiếng kêu dẫy chết của chúng như tiếng rú của quỷ. Hàng tràng đạn nổ cao vẫn dội ùng oàng xuống đồn. Chiếc lô cốt cuối cùng vẫn đứng vững, anh Thi cùng anh Hùng từ trong những lổ châu mai bắn tỉa từng tên địch. Giữa tiếng súng nổ dòn, dường như người ta nghe âm thanh rì rì của máy bay. Không Quân Việt Nam đã tới. Những chiếc A1 khu trục cơ đã xuất kích. Ðến đây thì "Thượng Úy" Việt cộng Sáu Bích, tên chỉ huy trận đánh đã có thể nhận thấy rằng, cuộc tấn công đồn Giồng Ðình đã đánh dấu chấm hết, với phần thắng nghiêng về phía Nghĩa Quân Việt Nam Cộng Hòa. Lúc 4 giờ 30 sáng, chiến địa hoàn toàn im tiếng súng. Quân địch đã kéo những xác chết và những tên bị thương chạy trốn vào phía bóng tối.

Khi ánh hừng đông của một ngày mới đã lên, hai Ðại Ðội Ðịa Phương Quân do chính Trung Tá Tiểu Khu Trưởng Gò Công chỉ huy đã đến và tổ chức bung quân ra lục soát. Quân cộng đã để lại trận địa 23 xác chết, ở giữa đồn có 6 xác khác nằm bên cạnh lô cốt thứ ba, nơi mà anh Ðồn Trưởng Thi, Ðồn Phó Hùng và chị Tâm giữ máy truyền tin đã kháng cự mãnh liệt, thà chết không hàng. Những tên Việt cộng này mang trên mình rất nhiều lựu đạn và bộc phá, chắc là chúng quyết thí mạng để phá cho bằng được ổ kháng cự cuối cùng này.

Anh Thi và anh Hùng đã bắn địch theo lối xâu chéo, nghĩa là bắn chéo góc với nhau tạo thành một xạ trường quét gọn tất cả những tên cộng nào nằm trong đó. Ngày hôm sau, một người thường dân bị Việt cộng bắt đi tải thương lén trốn về được đã cho biết số bị thương của chúng chở đầy sáu chiếc ghe tam bản. Một lính cộng may mắn bị thương tên Dương Văn Thiều, 18 tuổi, sống sót và bị bắt làm tù binh. Tại sao may mắn ? Vì nếu anh ta bị kéo đi theo vào bưng biền, nếu không bị chết vì nhiễm trùng, bị những quân y sĩ Việt cộng cưa cắt bằng những loại cưa và đục của thợ mộc, thì cũng bị cấp chỉ huy ra lệnh mang anh đi thủ tiêu. Ðó là lý do giải thích tại sao sau ngày 30.4.1975, người dân Miền Nam hiếm thấy người thương phế binh cộng sản trên đường phố.

Nhưng đối với anh Hùng, thì tất cả những gì mà Viêt cộng đã trả giá cho cuộc tấn công không làm anh quan tâm. Ngay khi tiếng súng vừa chấm dứt., quân cộng đã rút đi, thì anh đã như một người điên lao mình ra chỗ chiến hào mà chị Thàng đã một mình một súng trấn giữ ở đó, với một niềm hy vọng mỏng manh, rằng đừng bao giờ trái lựu đạn thứ 16 được rút chốt. Anh Hùng bò vào khúc hào mà anh đã nuốt nước mắt chạy đi. Chị Thàng cùng hai đứa con của anh nằm chết bên cạnh ba xác Việt cộng. Anh Hùng gục xuống như thân cây chuối bị một nhát dao bén chém ngọt làm đôi. Anh biết, nếu trái lựu đạn thứ 16 nổ thì chị Thàng cũng đi vào cõi chết, vì chị Thàng sẽ không bao giờ cho phép giặc bắt chị hoặc đạn của chúng bắn vào người chị. Chị Thàng đã chọn một cái chết thật dũng cảm và cao cả. Ôm hai đứa con vào lòng, chị Thàng bình tĩnh chờ cho những tên Việt cộng nhào vào, chị rút chốt!

Tiếng nổ kinh thiên cùng với xác thịt và máu của người nữ chiến sĩ đó đã được đánh đổi với ba mạng giặc. Anh Hùng ôm xác vợ con vào lòng và gần như ngất xỉu. Nhưng khi nhìn ra ngoài, những xác giặc thù nằm ngỗn ngang khắp nơi, trong nỗi đau khổ tột cùng của mình, anh Hùng thấy trong lòng dậy lên một niềm tự hào đến nghẹn ngào. Sự hy sinh của chị Thàng đã cứu sống được tất cả những thương binh Nghĩa Quân cùng vợ con các anh, nhưng trên hết cứu sống chính sinh mạng của người chồng mà chị yêu mến. Những viên đạn Carbine và 15 trái lựu đạn của chị đã đóng góp vào sự tồn tại kỳ diệu của đồn Giồng Ðình. Một người lính chuyên nghiệp và thiện chiến nhất cũng chỉ làm được đến ngần ấy. Nếu cái lô cốt thứ ba không đứng vững, thì chắc chắn tất cả sinh mạng mấy mươi người Nghĩa Quân và vợ con của đồng Giồng Ðình đều sẽ chết hết.

Anh Hùng ẳm chị Thàng ra ngoài, để trông thấy những người còn sống, những người vợ lính khác đã gục đầu khóc tiếc thương chị Thàng. Những nấm mộ đất được đắp vội với ba tấm bia tang tóc. Một của chị Phạm Thị Thàng, và hai kia của cháu Lê Văn Dũng và Lê Tấn Sỹ. Ôi, những người vợ của lính trong thời lửa binh. Chị Phạm Thị Thàng, chị Trần Thị Tâm, và nhiều người chị khác trên khắp nẽo chiến trường, chị Thạch Thị Ðịnh, chị Bùi Thị Xiếu, chị Am Reng. Người lính của chúng ta, những công dân xếp hạng chót nhất trong bậc thang xã hội, nhưng là những người hứng chịu oan nghiệt trước nhất, là bức tường chắn cho sự an toàn của hậu phương phồn thịnh và hạnh phúc. Trong đời của các anh không có được một thứ ưu tiên vật chất nào cả, ngoài cái ưu tiên phải hy sinh và chết. Có những người lính từ Miền Tây ra tận miền hỏa tuyến hay trên vùng cao nguyên sương mù Miền Trung, nhiều năm liền không có lấy được một ngày phép về thăm gia đình. Nếu anh may mắn, thật đau xót, quân thù bắn anh bị thương, thì anh mới có cái diễm phúc được nắm trong tay tờ giấy phép. Còn nếu sự gọi là may mắn đó đi xa hơn một bước, anh chết, thì anh được phép dài hạn trở về và vĩnh viễn được an nghỉ ở nơi đã sinh ra anh. Ðầu năm 1972, trong một trận đánh của Sư Ðoàn 3 Bộ Binh tại khu vực Cồn Tiên nằm sát phía Nam khu phi quân sự bên này bờ sông Bến Hải, một tiểu đoàn sau nhiều ngày cố gắng đã không thể chiếm được một cao điểm. Vị Tiểu Ðoàn Trưởng gọi bốn người lính gốc Miền Tây lên hứa sẽ cấp mỗi anh mười ngày phép nếu các anh chiếm được ngọn đồi ấy. Bốn người tráng sĩ Kinh Kha đã nai nịt tề chỉnh, mang thật nhiều lựu đạn bò lên, mỗi người cầm một cây gậy ngắn dò đường. Ðêm tối như mực. Hễ chọt trúng cái lổ nào là thảy lựu đạn vô cái lổ đó, vì ở đó chính là cái miệng hầm chốt của địch. Ðến sáng, bốn người dũng tướng vô danh đó đã reo hò trương Cờ Vàng Việt Nam trên đỉnh cao điểm. Ôi, những ngày phép đã trở thành một ân huệ chứ không phải là một quyền lợi đương nhiên của những người lính trận.

Người vợ lính cùng chia sẻ với chồng những nỗi đắng cay thiệt thòi đó, bằng tất cả sự câm nín nhẫn nhục và vui lòng với những gì mình có. Một góc hầm tối tăm, một chiếc ghế bố cũ, vài cái nồi, chảo nhem nhuốc, những cái chén sành và những đôi đũa tre, cùng tiếng cười của lũ trẻ thơ cũng đủ làm nên thành niềm hạnh phúc vĩ đại của những người vợ lính. Chị Thàng đã chết đi, anh linh của chị cùng hai cháu bé đã thăng thiên lên cõi vĩnh hằng, nhưng những người còn sống cùng thời với chị, cho mãi đến tận bây giờ và ngàn đời sau, dân tộc Việt Nam sẽ không bao giờ quên tên chị. NGƯỜI CHỊ CAO CẢ PHẠM THỊ THÀNG. Vì tên chị đã được trân trọng ghi chép vào những trang bi tráng nhất của lịch sử dân tộc Việt Nam chống Cộng sản quốc tế và Cộng sản Hà Nội, một lũ hung đồ diệt chủng, diệt dân tộc gớm ghiếc nhất của thế kỷ thứ 20 và của lịch sử hình thành nhân con người.

AMRENG, NGƯỜI NỮ CHIẾN SĨ CAO NGUYÊN
Quân cộng sản hành quân trên vùng cao nguyên thường khinh rẻ và húng hiếp các sắc dân Thượng rất thậm tệ. Chúng bắt trai tráng đi dân công, thậm chí cho bổ sung vào những đơn vị Thượng cộng, người làng thì bị ép buộc đóng góp lương thực, lúa gạo. Chúng dùng muối, là thứ tối cần của người dân miền cao, để đổi chác một cách rất bất lợi cho người Thượng. Người Thượng sống vất vả quanh năm, chỉ trông cậy vào những mảnh đất rừng khai phá để trồng trọt chút hoa màu hay trồng lúa rẫy, không đói đã là may lắm rồi, có còn đâu dư dả để cung phụng cho bọn Phỉ Cộng. Có nhiều trường hợp cả làng trong rừng sâu chịu không nỗi cảnh áp bức, giết chóc, đã kéo nhau ra quận hay tỉnh để xin nương náu với người Kinh.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa đã lập Bộ Phát Triễn Sắc Tộc để giải quyết những vấn đề của người thiểu số. Hàng trăm trại tiếp cư tị nạn cộng sản đã được thiết lập để đón tiếp đồng bào Thượng và giúp đỡ đồng bào tạo dựng cuộc sống mới. Ðất canh tác được cấp phát vô điều kiện cho đồng bào Thượng tị nạn cộng sản. Thông thường thì mỗi gia đình thiên tai hay tị nạn đều được cấp phát 10 bao xi măng và 20 tấm tôn để cất lại một căn nhà nhỏ. Một nước nhỏ, nghèo là Việt Nam Cộng Hòa, quanh năm chiến tranh, ngân khoản thiếu thốn, mà đã cắn răng gồng gánh giúp đỡ hàng triệu người đồng bào bất hạnh của mình. Không phải “Lá lành đùm lá rách nữa”, mà là “Lá rách đùm lá nát”. Ðã vậy mà thôi đâu, những làng định cư nhỏ bé và nghèo nàn ấy vừa được dựng lên chưa được bao lâu, thì Việt cộng đã tràn về đốt phá tan hoang. Những chiếc lá rách nát lại cắn răng san sẻ cho nhau những gì mình có. Dưới mắt cộng sản, thì những người dân chạy về phía chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa xin được che chở và giúp đỡ, đều mang cái tội tày trời là “dân ngụy”, là “phản động”, dù có bắn bỏ hay đốt cháy nhà cửa của họ cũng là chuyện trừng phạt đương nhiên của điều mà chúng gọi là cuộc “cách mạng giải phóng”.

Với bản chất là một lũ cướp chuyên nghiệp và man rợ, cộng sản Hà Nội hiện nay không bao giờ từ bỏ cơ hội chiếm đoạt đất khẩn hoang của người Thượng. Chúng chờ cho các sắc tộc Thượng khai phá rừng tạo dựng nên thành những vùng sinh sống màu mỡ trên những tỉnh cao nguyên, là chúng kiếm chuyện cứớp đoạt một cách trắng trợn ngay, nại lý do đất đai thuộc về quyền quản lý của nhà nước, người dân không có quyền sỡ hữu. Mặt khác, chúng áp dụng hình thái thực dân, cho di chuyển dân Kinh gốc Miền Bắc vào ở trên đất mà người Thượng đã sinh sống từ ngàn năm, lấn dần, lấn dần, người Thượng kém thế phải lùi mãi vào tận rừng sâu,ở chỗ chỉ có nước độc, bệnh hoạn và đói kém. Ðã thế mà cộng sản nào chịu buông tha, chúng vẫn cứ cho phép những người gọi là di dân tràn vào như vết dầu loang, để đồng bào Thượng chịu không nỗi phải chạy qua đất Miên xin tị nạn. Ðây là một tiến trình có chủ mưu, có sách lược để tiêu diệt dần mòn dân Thượng. Chúng ta có thể thấy ngay rằng, những người di dân Miền Bắc đã không biết rằng mình đang được rải ra làm phên dậu phòng thủ dọc theo dãy biên thùy Trường Sơn, án ngữ con đường đổ xuống đồng bằng duyên hải, nếu có một đạo quân đánh sang từ đất Lào và Miên. Cũng tốt, cái phên dậu đó giống như con dao hai lưỡi, rồi cũng có một ngày những đồng bào di dân nghèo Miền Bắc đó sẽ trở thành một lực lượng mạnh có khả năng thọc sâu mũi dao vào tận tim của bọn cộng sản để tiễn chúng xuống tận đáy địa ngục.

Tức nước thì có lúc cũng phải vỡ bờ. Ngày 12.4.2004, nhiều chục ngàn dân Thượng của các sắc tộc sinh sống trong những tỉnh Kontum, Pleiku, Darlac, Phước Long, Bình Long đã kéo vào những thành phố tỉnh lỵ để hình thành một cuộc phản kháng bất bạo động, phản đối cộng sản Hà Nội đàn áp đức tin đạo Tin Lành, chiếm đoạt đất đai và quyền sống căn bản của người Thượng. Dưới mắt cộng sản, dù chỉ là một biểu hiện phản đối nhỏ cũng đã được gán cho cái tội phản động, tội chết, chứ đừng nói gì đến những cuộc tập trung đông đảo như vậy. Hàng sư đoàn bộ binh của cộng sản đã được điều động lên phối hợp với công an đàn áp dã man cuộc tập trung. Hàng trăm đồng bào Thượng đã bị bắn chết, những người bị thương bị đem vào cô lập trong bệnh viện nhà nước, không ai có thể vào thăm viếng, kể cả những phóng viên và những nhà ngoại giao nước ngoài.

Ngày đầu xuân Tân Hợi 1971, trên miền cao nguyên của Quân Khu II, trong chiến dịch quân sự mà cộng sản gọi là Cao Ðiểm Tân Hợi nhằm quấy phá những tỉnh biên thùy đã không thực hiện được. Có thể bởi hậu quả của những cuộc hành quân Tây chinh vượt biên Cửu Long của Quân Ðoàn IV, Toàn Thắng của Quân Ðoàn III và Bình Tây của Quân Ðoàn II trong năm 1970 đã gây tổn thất nặng ở những kho tiếp tế hậu cần của cộng sản, nên chúng khó thể đủ sức mở được những mặt trận lớn như mong muốn. Ðêm 31.1.1971, lúc 3 giờ sáng, một lực lượng cộng quân tấn công vị trí của Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân tại làng Plei Kênh Săn thuộc tỉnh Pleiku..

Cuộc tấn công đã rất sớm bị thảm bại vì quân địch đã không thể ngờ rằng, có những người vợ lính cũng đã chiến đấu dũng mãnh như thế nào. Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân đa số chiến sĩ là người dân tộc Thượng, là những chiến sĩ sinh ra và lớn lên ở giữa núi rừng cao nguyên, đã hun đúc các anh trở thành những con người cứng rắn như những tảng đá khổng lồ trên triền dãy Trường Sơn. Người Thượng quen sống kiếp du mục du canh, nên khi người lính Thượng Ðịa Phương Quân đóng đồn ở đâu thì vợ con của các anh cũng đi theo và nhanh chóng thích ứng với môi trường cùng cuộc sống mới ở nơi đó. Tuy là phụ nữ, nhưng những người đàn bà Tây nguyên dẻo dai không kém gì người đàn ông Thượng. Vai mang gùi nặng trên lưng, chân trần chai sạn vì đá cứng và gai nhọn của núi rừng, cùng hoàn cảnh sinh tồn khắc nghiệt, bất cứ một người phụ nữ Thượng nào cũng đã được thiên nhiên rèn luyện nên thành một mẫu người khỏe mạnh, rắn rỏi, nhưng vẫn giữ được những dường nét mềm mại tràn đầy mạch sống. Cho nên khi cuộc chiến đấu nổ ra, thì những người đàn bà đó đã rất nhanh chóng trở thành những người nữ binh hăng hái cầm súng đánh địch. Một trong những người chị đó là chị Ksor Amreng, vợ của Binh Nhứt Kpa Dan.

Anh chị Dan và Amreng đều là người sắc tộc Djarai, sinh quán ở quận Phú Túc, tỉnh Phú Bổn. Từ sau khi thành hôn, anh Dan nhập ngũ, thì chị Amreng cũng đã theo chồng lên sinh sống trong những tiền đồn hẻo lánh ở biên giới trong quận Phú Nhơn, tỉnh Pleiku, những địa danh thật xa lạ với chị : Queng Mep, Plei Kênh Săn. Khi quân cộng sản Bắc Việt nổ súng tấn công Plei Kênh Săn, chị Amreng đã vững vàng trong tư thế phụ xạ thủ đại liên cho chồng. Khẩu đại liên M60 nằm phía sau những lổ châu mai nhỏ đã bị giới hạn rất nhiều khu vực tác xạ, anh Dan quyết định dời khẩu đại liên sang một vị trí khác có xạ trường rộng lớn và bao quát hơn. Trong lúc chị Amreng chạy đi chạy lại để khiêng những thùng đạn đại liên sang vị trí mới, thì có ba tên Ðặc Công Việt cộng đã nhào vào đánh cận chiến với anh Dan. Anh Dan thật dũng cảm, như một con beo ở rừng xanh, bằng tay không anh đã vật lộn với chúng mà không nao núng. Chị Amreng vừa vác một thùng đạn đến, quát bảo anh Dan tránh ra xa. Hiểu ý vợ, anh Dan lăn một vòng, một trái lựu đạn M26 từ trong tay chị Amreng được ném tới. Ba tên Ðặc Công chưa kịp phản ứng, thì một tiếng nổ chát chúa đã đốn gục chúng xuống ngay bên cạnh đường giao thông hào. Khẩu đại liên M60 trong tay đôi vợ chồng Dan và Amreng đã bắt đầu nổ dòn dã ngăn chận tất cả những cuộc tấn công biển người của địch vào đồn. Anh Dan đang say mùi thuốc súng, anh đã không để ý nhiều tên Ðặc Công khác đã bò vào gần khẩu đại liên để mở cuộc cận chiến lần nữa.

Nhưng chúng không biết rằng người nữ binh vóc dáng nhỏ bé với khuôn mặt hiền lành như một em bé đã rất cảnh giác. Ba trái lựu đạn M26 đã được chị quăng ra rất chính xác vào những cái bóng đen đang bò lổn nhổn. Giữa tiếng súng nổ ầm ầm, chị Amreng đã có thể nghe thấy tiếng kêu gào thảm thiết của những lính địch trúng phải lựu đạn của chị. Ðến lúc này thì anh Kpa Dan chợt nhận ra rằng mình đã bị thương, chị Amreng lập tức trở thành xạ thủ chính, anh Dan lùi qua một bên làm xạ thủ phụ cho chị. Hào hùng không kém gì những đấng nam nhi, người nữ chiến sĩ ấy đã cùng với khẩu M60 đốn ngã hàng loạt cuộc tấn công của giặc. Sinh mạng của cái đồn nhỏ Plei Kênh Săn phần lớn trông cậy vào khẩu đại liên. Nói một cách chính xác, toàn tiền đồn cậy nhờ vào đôi bàn tay nhỏ nhắn của một cô gái mà ngày thường rất hiền hòa và ít nói này.

Khi ánh bình minh lên, giặc chấp nhận thua cuộc và đã rút đi, chiến trường đã hoàn toàn im tiếng súng, lũ chim rừng sau một đêm kinh hoàng đã ríu rít hát ca trên cành lá đón chào một ngày mới. Tin chiến thắng của Plei Kênh Săn đã bay về đến Pleiku và cái tên Ksor Amreng thật dịu dàng và thật đẹp ấy đã được người dân thành phố gọi là buồn muôn thuở này nhắc nhở nhiều. Kinh lẫn Thượng, đồng bào Pleiku đã chung góp gửi đến chị Amreng và Ðại Ðội 838 Ðịa Phương Quân nhiều tặng phẩm và tiền thưởng. Thiếu Tướng Ngô Dzu, Tư Lệnh Quân Ðoàn II & Quân Khu II đã đích thân bay trực thăng đến Plei Kênh Săn trân trọng trao gắn cho người lính không số quân Amreng chiếc huy chương cao quí Anh Dũng Bội Tinh, một vinh dự hiếm có dành cho một người dân sự .

Tấm gương chiến đấu của chị Ksor Amreng là một trong nhiều tấm gương thầm lặng còn chưa được biết của những người chị trên cao nguyên trong cuộc chiến tranh bảo quốc bi tráng của dân tộc Việt Nam. Ngày nay, những thế hệ đi sau anh chị Dan và Amreng sẽ mãi nhớ rằng, dòng máu kiên cường uy vũ bất năng khuất, mà anh chị cùng những chiến sĩ Thượng, từng một thời thể hiện dưới lá Quốc Kỳ Việt Nam Cộng Hòa và Quân Kỳ Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, là một niềm kiêu hãnh sáng chói mà họ, những đồng bào Thượng đang bị kềm kẹp oan khuất dưới bàn tay sắt máu của cộng sản Bắc Việt, cũng sẽ có ngày vùng lên ném những quả lựu đạn, và bắn những tràng đại liên vào giữa mặt bọn chúng, để hủy diệt chúng, bọn vô dân tộc, vô thần đó, và cho chúng biết lòng quật khởi phi thường của người dân Nước Nam.

Phạm Phong Dinh
18/4/2013

3/01/2015

Phái đoàn người Việt vận động tự do
 

Tự Do Tôn Giáo
Thông Báo

Liên Minh cho một Việt Nam Tự Do và Dân Chủ
 

Phái Đoàn Đa Tôn Giáo tiếp xúc Bộ Ngoại Giao
và Ủy Hội Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế của Hoa Kỳ


Ngày 27/02/2015


Ngày thứ Ba tới đây, một phái đoàn gồm chục chức sắc và các nhà tranh đấu về tự do tôn giáo người Việt sẽ họp với Ủy Hội Hoa Kỳ về Tự Do Tôn Giáo Quốc Tế và sau đó với vị tân đại sứ lưu động về tự do tôn giáo quốc tế của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Phái đoàn cũng sẽ gặp gỡ cơ quan USAID và một số dân biểu hay phụ tá lập pháp của họ.

"Các buổi họp này nằm trong kế hoạch đẩy mạnh tự do tôn giáo như là mũi nhọn cho công tác quốc tế vận trong năm nay", Ts. Nguyễn Đình Thắng, Tổng Giám Đốc BPSOS và Phát Ngôn Nhân của Liên Minh Cho Một Việt Nam Tự Do và Dân Chủ, nói.

Vị tân Đại Sứ Lưu Động của Hoa Kỳ về tự do tôn giáo quốc tế, Ông David Saperstein, chỉ mới vừa nhậm chức Thứ Sáu tuần rồi. Ông được cả những người trong và ngoài chính quyền Hoa Kỳ xem là một nhà tranh đấu mẫu mực cho vấn đề tự do tôn giáo trên thế giới.

Theo Ts. Thắng cho biết, phái đoàn đa tôn giáo người Việt sẽ đưa ra những đề nghị cụ thể để Việt Nam đáp ứng nếu muốn tránh không bị đưa vào danh sách các quốc gia cần quan tâm đặc biệt (CPC) và tham gia Hợp Ước Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP).


Buổi họp này là một trong những sinh hoạt để chuẩn bị cho Ngày Vận Động Cho Việt Nam 18 tháng 6 tới đây," Ts. Thắng giải thích.

Theo Ts. Thắng, buổi đối thoại nhân quyền hàng năm giữa Hoa Kỳ và Việt Nam lần này sẽ diễn ra vào tháng 5 ở Hà Nội, và vận động Bộ Ngoại Giao lúc này là cần thiết:

"Chúng ta cho Hà Nội cơ hội và thời gian từ giờ đến đó để chứng minh thiện chí thực sự tôn trọng tự do tôn giáo," Ts. Thắng giải thích. "Bằng không thì sẽ khó thuyết phục Quốc Hôi chấp nhận cho Việt Nam tham gia TPP."

Theo Ts. Thắng, chính bởi vậy Liên Minh cho một Việt Nam Tự Do và Dân Chủ tổ chức Ngày Vận Động Cho Việt Nam vào giữa tháng 6:

 "Cuộc tổng vận động ngày 18 tháng 6 này sẽ quy mô và đông người tham gia như chưa từng có," Ts. Thắng nói. "Và lần này sẽ có đông đảo các cựu chiến binh Hoa Kỳ tham gia cùng với chúng ta."

Ghi chú: Ghi danh tham gia Ngày Vận Động Cho Việt Nam 18 tháng 6 tại

http://www.cfdvn.org/?page_id=84



Bài liên quan:

Hoà Kỳ sẽ đẩy mạnh vấn đề tự do tôn giáo với Việt Nam
http://machsong.org/modules.php?name=News&file=article&sid=3006



Điều tồi tệ của đất nước Sanh-ga-po
 
The FB Huỳnh Lộc Bích Huyền
 
Các bạn ơi ,
Có nhiều điều thú vị ở cái Xứ nầy . Trong tuần vừa rồi, Chánh Phủ Singapore đã cấp cho dân chúng và người thường trú 100 SD/người, nhằm khuyến khích đi tập thể dục trong Chuong Trình Giảm 1 triệu kgs cho toàn dân trong năm 2014 do Nhà Nước phát động.
Không hiểu nổi cái Xứ Singapore nầy , người dân được chăm chút từ chuyện nhỏ kể cả những người tàn tật , họ dể dàng di chuyển bằng xe lăn trên đường phố hoặc bằng xe bus , đều có đường và khoãng trống ưu tiên dành cho họ. Thấy họ rồi ngẫm đến ta … Hỏng cười nổi các bạn.
MỜI CÁC BẠN ĐỌC NHÉ !
Lang thang tại Sanh-ga-bo trong mấy ngày vừa qua, tui nhựn thấy đất nước này có những điều vô cùng tồi tệ. Kể ra chút cho pà kon nghe chơi:

1- Đầu tiên dễ nhận thấy đó là trên khắp con đường của Sanh không hề có bóng dáng cảnh sát. Điều này đã tạo nên một sự đơn điệu vô cùng to lớn cho đường phố. Trong khi ở Việt Nam ta đâu đâu cũng có bóng dáng của Cảnh sát giao thông. Đôi khi 1 cột đèn mà tề tựu đến những 4,5 anh - vừa Giao Thông, vừa Xung Kích vừa Cơ Động. Màu áo vàng hòa quyện màu áo xanh thật là đẹp mắt.
Khi tui hỏi người Sanh "Sao không thấy cảnh sát trên đường?", thì họ trợn mắt ngạc nhiên "Cảnh sát ngoài đường để làm gì? Dân tao ý thức, đất nước tao an toàn mà. Mày có ra đường một mình 2h khuya cũng không sao đâu". Chưa thỏa mãn tui gặng tiếp" Ok dân mày tốt, nhưng rủi dân nước khác nó tới làm bậy thì seo?". Nghe xong thằng Sanh nó cười hô hố "Ở Sanh cướp giật là tội nặng lém. Tù cho mọt gông luôn, thậm chí có thể lên tới tử hình á. Mày dám hông?". CHỦ QUAN. Một đất nước hết sức là chủ quan!

2- Thứ hai đó là ở Sanh không có rác. Cha mạ ơi cái gì mà kiếm miếng rác đỏ con mắt không ra. Một đất nước láng o như vại thì những ngành nghề như móc bọc, ve chai, lụm rác, phế liệu... sẽ đi về đâu? Xin hỏi sẽ đi về đâu ???

3- Ở những nơi công cộng tại Sanh người ta hay đặt những máy nước uống để dân du lịch hay người đi đường đều có thể tấp vào hứng uống. Gì chớ vụ này tui thấy Chánh phủ Sanh quá là dại dột. Vì nếu cứ cho uống chùa như vại thì còn ai bỏ tiền mua nước uống đóng chai nữa? Và như vại đất Sanh sẽ thất thoát một khoản thu khổng lồ từ ngành công nghiệp nước giải khát. Quá dại, quá dại!

4- Đa phần Toi-lết công cộng ở Sanh đều đẹp và sạch sẽ, như cái hềnh tui chộp mới nhìn cứ tưởng Toi-lết khách sạn 5 sao. Đây là một sự LÃNG PHÍ vô cùng nghiêm trọng. Hết chiện đi đổ tiền đầu tư trang trí cho mấy cái Toi-lết.

5- Toi-lết công cộng ở Sanh họ có hẳn một phòng vệ sinh riêng cho Mẹ và Baby. Trong đó họ sẽ thiết kế thêm một cái ghế con cho Baby ngồi để Mẹ có thể thoải mái đi vệ sinh mà không vướng bận con nhỏ. Đây là sự chu đáo hết sức ấu trĩ vì sướng quá sẽ sanh tệ. Cứ cái đà này kỹ năng chăm con của các bà Mẹ dần dần sẽ bị thui chột một cách nghiêm trọng cho coi.

6- Cái vụ cuối cùng mới đỉnh nè. Bữa tui đi uống nước với mấy người Sanh. Uống xong thì họ chồm tới xin tui cái khoen lon Coca cola. Tui hỏi xin làm giề thì họ hào hứng cho biết "Tụi tao gom góp cái khoen này để ủng hộ giúp đỡ cho mấy trường học. Vì Nhà trường sẽ bán nó để gây quỹ học đường. Và những khoen này sau đó sẽ được tái chế phục vụ việc sản xuất chân tay giả cho người tàn tật. Tụi tao làm như vậy nhà trường vừa có quỹ mà người tàn tật cũng đã gián tiếp được giúp đỡ". Úi giời ơi, tưởng đâu Sanh-ga-bo nó giàu có lém, ai ngờ nó KEO KIỆT thấy mà ghê. Có cái khoen lon mà cũng đi gom góp ...
Túm tới túm lui đi đâu cũng thấy chỉ có Xứ Ta mới đúng nghĩa là thiên đường. Nhệ! Hề hề hề!



 
 
KHI NHẬT BẢN VƯỢT MẶT TRUNG CỘNG
 
 
 
Đăng Bởi -
 
Nhat Ban
 

Những ngày này, giới phân tích kinh tế thế giới đang được chứng kiến một sự đảo chiều lạ lùng đang diễn ra ở Châu Á giữa hai nền kinh tế hàng đầu ở phương Đông là Trung Quốc và Nhật Bản. Mọi thứ đang diễn ra theo chiều hướng đi xuống ở kinh tế Trung Quốc, trong khi điều ngược lại đang diễn ra ở Nhật Bản, luồng vốn đầu tư nước ngoài đang ồ ạt tháo chạy khỏi Trung Quốc lại đang có xu hướng chảy về Nhật Bản và tăng vọt một cách kỳ lạ. 

Điều ấy trên thực tế cũng không có gì khó hiểu, khi mà trong cuộc chạy đua phát triển kinh tế giữa hai cường quốc kinh tế hàng đầu châu lục, Nhật Bản đang đi trước Trung Quốc ít nhất là một bước. Quả thực, ở thời điểm hiện tại, nếu như nền kinh tế Trung Quốc có xu hướng chùng xuống bao nhiêu thì kinh tế Nhật Bản lại đang năng động lên bấy nhiêu. 
 
Nếu như ở Trung Quốc, tốc độ tăng trưởng chậm lại và tổng cầu đang dần đạt đến mức bão hòa khiến cho các nhà đầu tư nước ngoài thi nhau thoái vốn khỏi thị trường này dẫn đến những lo ngại về tình trạng thất nghiệp đang ngày càng gia tăng và chính phủ Trung Quốc đang phải đau đầu đưa ra các giải pháp để kích thích nền kinh tế, thì mọi thứ lại đang trái ngược hoàn toàn ở Nhật Bản.
 
Lượng đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Nhật Bản từ đầu năm 2015 đến nay đã tăng vọt lên tới 181% so với cùng kỳ năm trước, chỉ số chứng khoán cao và các gói kích thích kinh tế liên tục được Tokyo tung ra đang tạo nên một sự năng động cho nền kinh tế Nhật Bản đang rất hấp dẫn không chỉ giới đầu tư trong nước mà còn cả giới đầu tư quốc tế, mà phần lớn trong số đó là các luồng vốn vừa mới được rút ra khỏi thị trường Trung Quốc.
 
Sở dĩ như thế, là vì chính sách duy trì đồng Yen mệnh giá thấp đang không chỉ đem lại thuận lợi cho xuất khẩu của Nhật Bản, mà còn kích thích các nhà đầu tư quốc tế đến Nhật Bản. Tỷ giá đồng Yen giảm so với USD hay Euro đang khiến cho các tài sản ở Nhật rẻ hơn so với trước và các nhà đầu tư đang kỳ vọng sẽ thu được lợi nhuận từ điều này, đặc biệt là ở thị trường bất động sản. 
 
Các công ty nước ngoài, đặc biệt là các công ty Singapore, đang thiết lập văn phòng ở Nhật để dễ bề xử lý các phi vụ mua bán bất động sản mệnh giá lớn. Trong động thái mới nhất, một công ty địa ốc Singapore đã bỏ ra 1,7 tỉ USD – một số tiền kỷ lục - để mua một miếng đất cạnh ga Tokyo với sự tin tưởng rằng giá bất động sản ở đây sẽ còn tăng hơn nữa. Tất cả những điều này đang khiến thị trường địa ốc Nhật Bản sôi động hơn bao giờ hết và khiến cho giới kinh tế hết sức vui mừng vì sự đóng băng của thị trường bất động sản sẽ rất bất lợi cho phát triển kinh tế. 
 
Và điều này thì cũng đang trái ngược với thị trường bất động sản Trung Quốc, nơi tình trạng ế ẩm đang diễn ra, và các chiến dịch chống tham nhũng của Bắc Kinh lại đang khiến cho hàng loạt các dự án bất động sản quan trọng ở nước này đổ vỡ nhanh chóng hơn bao giờ hết. Không chỉ đang qua mặt Trung Quốc về việc tạo ra một trạng thái năng động của nền kinh tế để thu hút đầu tư nước ngoài, Nhật Bản cũng đang đi trước nước láng giềng về việc triển khai các dự án đầu tư ra nước ngoài. 
 
Khi tổng cầu của nền kinh tế quốc nội đạt đến độ bão hòa, điều đang diễn ra ở cả Nhật Bản lẫn Trung Quốc, thì mấu chốt vấn đề phát triển kinh tế sẽ phụ thuộc vào các hoạt động đầu tư ở nước ngoài. Bắc Kinh cũng đã nhận thức được điều này khi Chủ tịch Tập Cận Bình tại hội nghị cấp cao APEC vào cuối năm 2014 đã tuyên bố một sự thay đổi trong chiến lược phát triển kinh tế của Trung Quốc là khuyến khích đầu tư ra nước ngoài, và Trung Quốc cũng sẽ triển khai các dự án kết nối các nền kinh tế trong khu vực để nhận đầu tư từ Trung Quốc như Con đường tơ lụa.
 
Nhưng khi mà người Trung Quốc vẫn đang loay hoay với các đề án đầu tư ra nước ngoài của mình, thì người Nhật đã bắt tay vào việc tiến hành từ lâu, và thậm chí là với quy mô lớn nhất từ trước đến nay. Theo đó, các tập đoàn kinh tế lớn nhất của Nhật Bản sẽ lần đầu tiên sử dụng đến quỹ dự trữ tài chính của mình để đưa vào các hoạt động đầu tư quốc tế, theo ước tính quỹ dự trữ này lên tới gần 2.000 tỉ USD vốn là kết quả của một sự tích trữ trong nhiều năm. Số tiền khổng lồ này sẽ được sử dụng vào các mục đích thâu tóm cổ phần của các công ty ở nước ngoài và thậm chí là thâu tóm hoàn toàn các công ty phát đạt trên khắp thế giới. 
 
Đây được đánh giá thực sự là một bước ngoặt lớn trong lịch sử phát triển kinh tế ở Nhật Bản, khi quỹ dự trữ là thứ được xem như bất khả xâm phạm để đề phòng rủi ro của các tập đoàn hàng đầu Nhật Bản, và không hiểu thủ tướng Shinzo Abe đã thuyết phục như thế nào để các tập đoàn này chấp nhận mạo hiểm để vung tiền ra theo kiểu chơi sát ván như thế này.
 
Giới phân tích đánh giá đây là một cuộc chiến kinh tế toàn diện mà chính phủ của thủ tướng Shinzo Abe đang khơi mào. Vì trên thực tế xuất khẩu của Nhật trong quá khứ chỉ tập trung ở một số lĩnh vực nhất định như công nghiệp hay các sản phẩm điện tử, và những năm gần đây thì xuất hiện thêm lĩnh vực thực phẩm. Có vẻ như Tokyo cho rằng việc giới hạn xuất khẩu trong một số ít những lĩnh vực như thế đang hạn chế chính tiềm năng của các doanh nghiệp Nhật. 
 
Đối tượng mở rộng được các tập đoàn Nhật Bản hướng tới trong chiến dịch thâu tóm này là các doanh nghiệp ở ngoại quốc hoạt động trong các lĩnh vực không có sự cạnh tranh của hàng hóa Nhật Bản ở nước ngoài như hàng gia dụng, thuốc lá, hóa chất và thực phẩm. Hầu hết trong số đó là các doanh nghiệp làm ăn phát đạt và đang có được một chỗ đứng ổn định ở thị trường trong nước.
 
Không nghi ngờ gì việc vừa tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào thị trường Nhật Bản, vừa mở rộng mức độ đầu tư ra các thị trường nước ngoài một cách toàn diện và rộng khắp của các tập đoàn Nhật Bản đang tạo thành một chiến lược kép và khép kín để tạo nên sức bật đáng nể cho tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước Nhật trong giai đoạn sắp tới. 
 
Qũy đạo của sự tăng trưởng kinh tế Nhật Bản sau hơn 2 năm triển khai Abenomics đang dần được hình thành và đi vào ổn định một cách rõ nét và đầy tương lai, trái ngược hẳn với những gì đang diễn ra ở Trung Quốc thực sự là một đống ngổn ngang và bề bộn.
 
Nhàn Đàm (theo Bloomberg)
 
 

18 Bản Đồ Giải Thích Về Sự Căng Thẳng

Để chúng ta có thêm tin tức về sự tranh chấp biển Đông, nmvn giới thiệu đến bạn đọc 18 bản đồ liên quan đến vấn đề này
18 Bản Đồ Giải Thích Về Sự Căng Thẳng
Trên Biển Đông
Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), Business Insider
Nam Nguyễn Hoàng dịch, CTV Phía Trước 


 1. Bản đồ hành chính:
Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương bao gồm trên 20 quốc gia, trải rộng từ phía Bắc, bắt đầu từ nước Nga đến phía Nam, tới Australia và New Zealand, phía Tây từ Ấn Độ, đến phía Đông, Papua New Guinea.
china1-3

2. Dân số châu Á:
Châu Á là một khu vực năng động và bùng nổ, với dân số 4,3 tỉ dân – chiếm 60% dân số toàn cầu. Trung Quốc là quốc gia đông dân nhất trong khu vực, với dân số 1,4 tỉ người. Ấn Độ được dự kiến sẽ vượt qua Trung Quốc trong 15 năm tới, trở thành quốc gia đông dân nhất thế giới với dân số 1.5 tỉ người.
2

3. Các đường hàng hải và các eo biển:
Hơn phân nửa hàng hóa thương mại vận chuyển bằng đường thủy đi qua khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương, đặc biệt là eo biển Malacca, một trong những cung đường vận chuyển quan trọng nhất trên thế giới. Eo biển này nối liền Ấn Độ và Thái Bình Dương, và có khả năng thông thương cho các tàu vận chuyển ước tính 25% tổng giá trị hàng hóa thương mại. Eo biển này cũng thông thương chuyên chở ước tính 25% lượng dầu thô vận chuyển bằng đường biển. Vị trí hẹp nhất của eo biển – phía Nam Singapore, chỉ rộng 1,5 hải lý, đã đưa Malacca trở thành một trong những điểm nút giao thông có giá trị nhất trên thế giới.

3
4. Đường vận chuyển khí đốt lỏng trên biển Đông:
Một phần ba lượng khí đốt hóa lỏng của thế giới đi qua eo biển Malacca vào biển Đông phần lớn có nguồn gốc ở vịnh Ba Tư. Khí đốt hóa lỏng cũng được vận chuyển vào khu vực từ Đông Nam Á và Châu Đại Dương. Phần lớn lượng khí đốt hóa lỏng nhập khẩu này được vận chuyển tới Nhật Bản và Hàn Quốc.
4

5. Tài nguyên thiên nhiên tại vùng biển Đông:
Biển Đông đã được kiểm chứng có trữ lượng dầu đáng kể, và các nước trong khu vực đều tập trung vào việc trích xuất lượng dầu này. Trữ lượng dầu này lại nằm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, Malaysia, và Philippines. Biển Đông cũng là một điểm tập trung khai thác khí đốt, nhưng mức độ dự trữ của khu vực này vẫn nằm trong bức màn bí ẩn.

6. Dòng thương mại châu Á:
Ngoài việc cung cấp đường vận chuyển hàng hóa nhập khẩu, các quốc gia trong vùng biển châu Á cũng có tương quan mật thiết với nhau trong các mối quan hệ thương mại.
Trung Quốc và các nước Đông Nam Á, Trung Quốc và Nhật Bản, Nhật Bản với các nước Đông Nam Á đều có những mối quan hệ thương mại mạnh mẽ. Trong đó, đặc trưng là mối quan hệ thương mại Trung Quốc – các nước Đông Nam Á.


7. TPP và các nước thành viên RCEP
Hiện tại, có 2 hiệp định thương mại tự do đàm phán ở Đông Á. Tại thời điểm này,  đối tác đàm phán của Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương bao gồm Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore, Hoa Kỳ, và Việt Nam.
Các quan hệ đối tác kinh tế toàn diện khu vực đối tác đàm phán bao gồm Australia, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hàn Quốc, New Zealand, và tất cả các nước thành viên ASEAN. Hai hiệp định này, và thực tế là một số nước (Australia, New Zealand, Brunei, Nhật Bản, Malaysia và Singapore) là thành viên của cả hai, thể hiện rõ sự phụ thuộc lẫn nhau chặt chẽ về kinh tế trong khu vực.
8

8. Thành viên đa phương
Có rất nhiều các diễn đàn đa phương trong khu vực, và các quốc gia châu Á khác nhau đáng kể trong việc tham gia vào các tổ chức này. Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, và Úc là các quốc gia trong khu vực tham gia diễn đàn đa quốc gia tích cực nhất.


9. Công Ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển
Hầu hết các quốc gia trong vùng biển châu Á đã ký kết và phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc năm 1982 về Luật Biển. UNCLOS quy định quyền hạn và trách nhiệm của các quốc gia đối với các đại dương trên thế giới, và việc thành lập các hướng dẫn cho việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, môi trường, và về các vấn đề thương mại. UNCLOS có hiệu lực vào năm 1994.
Hoa Kỳ dù không phải là một bên tham gia ký kết các điều ước quốc tế, mặc dù các hoạt động của Mỹ thực hiện tuân thủ theo UNCLOS như các luật tập quán quốc tế.

10. Vùng đặc quyền kinh tế
Theo Công ước Liên Hiệp Quốc năm 1982 về Luật Biển, các quốc gia ven biển có thể tuyên bố một “Khu Đặc quyền Kinh tế” có chiều dài lên đến 200 hải lý. Mỗi quốc gia có đặc quyền khai thác tài nguyên thiên nhiên trong vùng đặc quyền kinh tế của họ, nhưng cũng phải cho phép quyền giao thông mặc nhiên qua các khu vực tuân thủ theo UNCLOS. Về mặt địa lý, một số quốc gia ở vùng biển châu Á cho biết, các vùng đặc quyền kinh tế của các nước này bị chồng chéo lên nhau.
Biển Đông là khu vực xảy ra một số tranh chấp về vùng đặc quyền kinh tế giữa các nước láng giềng. Xa hơn về phía bắc, Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc cũng có tranh chấp biên giới về vùng đặc quyền kinh tế. Tuy nhiên, tại các khu vực được tô màu vàng, các quốc gia đã đồng ý cùng nhau phát triển ngư nghiệp hoặc một khu vực phát triển chung, bất chấp việc tranh chấp vùng đặc quyền kinh tế đang diễn ra
10

11. Vùng lãnh hải
Thực tế một quốc gia tuyên bố sở hữu một vùng lãnh thổ cụ thể lại không có nghĩa là quốc gia đó được quyền kiểm soát phần lãnh thổ đó. Một số quốc gia có quyền kiểm soát thực tế nhiều đảo trên biển đã khẳng định chủ quyền các đảo này, trong khi những nước khác thì không.
Năm quốc gia khác nhau kiểm soát một số vùng đất đảo trọng yếu ở quần đảo Trường Sa, trong khi chỉ có một quốc gia có thể kiểm soát quần đảo Kuril, Liancourt Rocks, quần đảo Senkaku, và quần đảo Hoàng Sa.
11

12. Đường lưỡi bò chín đoạn
Đường lưỡi bò chín đoạn của Trung Quốc là tuyên bố “độc” của Trung Quốc, trong đó mô tả các yêu sách của Bắc Kinh ở Biển Đông. Bản đồ ban đầu bao gồm 11 dấu gạch ngang đã được ban hành bởi chính phủ Quốc Dân Đảng Trung Quốc vào năm 1947. Chính quyền Cộng sản đã thông qua bản đồ này khi lên nắm quyền vào năm 1949, và sau đó bỏ đi hai dấu gạch ngang, cho phép Trung Quốc và Việt Nam giải quyết các yêu sách giữa hai nước trong vùng Vịnh Bắc Bộ.
Đường chín đoạn bao gồm phần lớn biển Đông, nhưng Bắc Kinh đã không làm rõ liệu đó có phải là hành động tuyên bố chủ quyền trên các vùng đất trọng yếu này hay kể cả cho dù đó là việc khẳng định quyền hàng hải hay không. Trong năm 2014, Bắc Kinh đã phát hành một bản đồ mới có thêm đặc trưng một dấu gạch ngang thứ 10 về phía đông của Đài Loan. Vì nó có trước UNCLOS nhiều thập kỷ nên các đường chín đoạn không liên quan đến các tuyên bố về vùng đặc quyền kinh tế.


 13. Vùng nhận diện phòng không
Một số quốc gia ở vùng biển châu Á đã tuyên bố vùng nhận diện phòng không là Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Hàn Quốc, Bắc Hàn Quốc, và Đài Loan. Vùng nhận diện phòng không là khu vực không phận được xác định mở rộng vượt ra ngoài một biên giới quốc gia, trong đó máy bay dân sự được yêu cầu xác định danh tính và có thể bị đánh chặn vì lợi ích an ninh quốc gia của nước đó.
Không có thỏa thuận quốc tế hoặc luật chi phối việc sử dụng các vùng nhận diện phòng không: đó là vùng do quốc gia thành lập vì an toàn và an ninh của chính quốc gia đó. Hoa Kỳ thành lập vùng nhận diện phòng không đầu tiên ngay sau chiến tranh thế giới II.
Mặc dù các vùng nhận diện phòng không thông thường có thể làm tăng tính minh bạch và giảm nguy cơ tai nạn, một số quốc gia trong khu vực Đông Nam Á lại có các vùng nhận diện phòng không chồng chéo lên nhau. Vùng nhận diện phòng không của Trung Quốc tại biển Đông tuyên bố vào năm 2013, cũng bao gồm hai phần của lãnh thổ tranh chấp. Theo Hiệp ước về Hàng không Dân dụng Quốc tế, các quốc gia có chủ quyền không phận trên lãnh thổ của họ, bao gồm cả vùng lãnh hải. Vùng nhận diện phòng không, tuy nhiên lại không trao bất kỳ quyền chủ quyền nào cho các quốc gia
.
13

14.Những điểm nóng trên biển
Trong vài thập kỷ qua đã có nhiều va chạm giữa các nước: các cuộc đụng độ vũ trang, đụng độ quân sự và những tranh chấp khác tại vùng biển châu Á. Các cuộc đụng độ này tập trung xung quanh quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa và dãy đá ngầm biển Đông, quần đảo Senkaku ở biển Hoa Đông, và đường Giới hạn phía Bắc vùng biển Hoàng Hải.
Các điểm nóng khác bao gồm quần đảo Kuril ở phía Bắc Thái Bình Dương, và Liancourt Rocks vùng biển Nhật Bản. Điều này làm tăng mối lo ngại rằng đây có thể là các vị trí xảy ra cuộc đụng độ nghiêm trọng hoặc điểm nóng leo thang căng thẳng tiềm ẩn trong tương lai.
14

15. Ngân sách quân sự châu Á
Chi tiêu dành cho quân đội ở từng nước châu Á cũng có sự khác biệt, giống như tỷ lệ phần trăm GDP. Theo số liệu này, Nga và Myanmar là những nước chi tiêu cho quân sự lớn nhất trong khu vực (4 – 5% GDP)
Kế đó là Trung Quốc, Việt Nam và Hàn Quốc (3-4%). Nhật Bản, Philippines, Australia và Malaysia (1-2%), trong khi hầu hết các nước Đông Nam Á chỉ chi tiêu ít hơn 1% tổng số GDP.

16. Quân đội châu Á
Sức mạnh của quân đội của các nước vùng biển châu Á đã có những thay đổi đáng kể, minh chứng bởi sự chênh lệch đáng kể về số lượng nhân sự quân đội, hải quân, và không quân.
Mỗi lãnh vực trên của Trung Quốc, Ấn Độ, và Bắc Triều Tiên đều có trên 1 triệu quân, và Nga sở hữu con số tương đương riêng ở mặt trận phía Đông. Hiện nay, tại Trung Quốc, lực lượng không quân và hải quân vẫn chiếm số lượng đông đảo nhất.
Ngược lại, lực lượng vũ trang của Brunei rất ít, bao gồm ít hơn 5.000 bộ binh và khoảng 1.000 hải quân và không quân.
Ngược lại, lực lượng vũ trang của Brunei rất ít, bao gồm ít hơn 5.000 bộ binh và khoảng 1.000 hải quân và không quân.
161

17. Quân đội Mỹ ở Đông Á
Quân đội Mỹ từ lâu đã duy trì sự có mặt lâu dài và đáng chú ý ở Ấn Độ – Thái Bình Dương và duy trì hoạt động quân sự trên mặt đất, trên không, tiềm lực hải quân, và quyền kiểm soát tài nguyên biển ở nhiều nước châu Á. Quân đội Mỹ có mặt nhiều nhất ở Hàn Quốc và Nhật Bản. Gần đây, Mỹ cũng đã thành lập sự hiện diện quân sự luân phiên với một số đối tác Thái Bình Dương, trong đó có Philippines và Australia.
Tiềm lực của Mỹ và việc triển khai nhân sự tại Hawaii, Alaska, và Guam, cũng góp phần tạo sự an toàn và an ninh của khu vực.
17

18. Thương mại và Tài nguyên ở Ấn Độ Dương
Ấn Độ Dương không phải là địa điểm xảy nhiều vụ tranh chấp lãnh thổ và hàng hải, nhưng dù sao cũng không thể tách rời đất nước này khỏi tiềm lực và lợi ích của khu vực Thái Bình Dương.
80% lượng dầu nhập khẩu của Nhật Bản và 39% của Trung Quốc đều phải đi qua Ấn Độ Dương trên cung đường bắt đầu từ Trung Đông. Các công ty Trung Quốc cũng có hàng tỷ đô la đầu tư ở Đông Phi, tập trung chủ yếu ở dầu và khí đốt, đường sắt và đường bộ, và các lĩnh vực khai thác mỏ khác.


© 2007-2014 Bản tiếng Việt TẠP CHÍ PHÍA TRƯỚC – www.phiatruoc.info