11/01/2015

DIỄN BIÊN MỚI Ở BIỂN ĐÔNG

Can Bui
1/11/2015




Rạng sáng 01/11 Mỹ đã bắn tên lửa vào tàu chiến của Trung Quốc trên Biển Đông - TrangBao.Com
Theo báo DÂN TRÍ rạng sáng hôm nay 01/11 Mỹ bắn và đánh chìm nhiều tàu chiến của trung quốc ngoài biển đông...
NGUỒN: Trang báo: VIỆT

Sai lầm chết người của TQ đã "tháo xích" cho đối thủ truyền kiếp?



Sự nôn nóng cùng dã tâm quá lớn hòng "nuốt trọn" Biển Đông đã khiến Bắc Kinh "lầm đường lạc lối" và "cởi găng tay" cho đối thủ truyền kiếp đầy sức mạnh : Nhật Bản.

Luật an ninh mới của Nhật Bản đã chứng tỏ Lực lượng phòng vệ nước này giờ đây có tính chất và tầm vóc của một cường quốc quân sự, được coi như một “mũi tên đã lắp vào nỏ” thì Sách trắng quốc phòng Nhật Bản năm 2015 đã chỉ rõ “đích” mà mũi tên hướng đến.

Trung Quốc lo ngại, phản đối quyết liệt khi cho rằng, đây hành động trỗi dậy của “chủ nghĩa quân phiệt Nhật”. Nhưng ngược lại, khu vực châu Á-Thái Bình Dương lại không có thái độ như vậy với sự trỗi dậy, thay đổi của nước Nhật.



Trong tương lai, quân đội Nhật Bản có thể chủ động tham chiến ở nước ngoài dưới sự ra lệnh từ chính Thủ tướng.

Trong tương lai, quân đội Nhật Bản có thể chủ động tham chiến ở nước ngoài dưới sự ra lệnh từ chính Thủ tướng.

Nước cờ chiến lược sai lầm của Trung Quốc

1. Lấy nước sau dùng làm nước đi đầu, tạo điều kiện cho Nhật Bản trỗi dậy

Kể từ năm 2010, khi GDP của Trung Quốc chính thức vượt Nhật Bản cũng là lúc tranh chấp quần đảo Senkaku (Trung Quốc gọi là Điếu Ngư) cũng được Bắc Kinh đẩy lên nấc thang cuối của cuộc xung đột.
Thực ra, quần đảo này, về địa chính trị, quân sự và kinh tế đối với Trung Quốc không đến mức vì nó mà sẵn sàng xung đột, chiến tranh với liên minh hùng mạnh Mỹ-Nhật Bản.

Nhưng chủ nghĩa dân tộc như một con dao 2 lưỡi, quá lạm dụng thì như “cưỡi trên lưng hổ” cho bất cứ chính phủ nào. Trung Quốc đã trở thành nạn nhân của nó, vì thế, chuyến “ra khơi” đầu tiên để thâu tóm Biển Đông lại bị “mắc cạn” tại quần đảo Senkaku/Điếu Ngư.

Đây là một sai lầm tai hại của Trung Quốc mà từ đó, làm nên chiến thắng vang dội của đảng Dân chủ Tự do (LPD), đưa ông Shinzo Abe - một người được Mỹ ủng hộ - lên làm Thủ tướng Nhật Bản.



Tranh chấp quần đảo Senkaku/Điếu Ngư,Trung Quốc vô tình thúc đẩy việc "cởi trói" Nhật Bản. Ảnh: Kyodo News.

Vụ tranh chấp với Bắc Kinh về quần đảo Senkaku/Điếu Ngư vừa qua, Nhật Bản đã rút ra 2 bài học giá trị từ chính Trung Quốc. Một là, một quốc gia giàu có chỉ là nhất thời, mạnh về quân sự mới là vĩnh viễn. Giàu mà không mạnh thì bị đe dọa hay trấn lột bất cứ lúc nào. Chỉ có sức mạnh quân sự của quốc gia mới bảo đảm tính ổn định, bền vững và phát triển của nền kinh tế. Hai là, mối hận thù dân tộc của Trung Quốc với Nhật Bản chưa bao giờ mờ phai. Nhật Bản luôn bị Trung Quốc coi là mối "quốc nhục" 100 năm chưa trả hận.

Đảng LPD cầm quyền của ông Shinzo Abe thừa nhận thức sâu sắc 2 bài học này và quyết tâm tái vũ trang, xây dựng một sức mạnh quân sự đủ sức răn đe Trung Quốc, đề phòng liên minh Mỹ-Nhật không có giá trị.

Thực hiện quyết tâm này, về mặt kỹ thuật thì không mấy khó khăn với Nhật Bản khi nước này có một nền công nghiệp tiên tiến hiện đại bậc nhất thế giới.

Tàu ngầm, máy bay, tàu chiến, tên lửa… nói chung là những thứ vũ khí trang bị hiện đại, Nhật Bản muốn là họ tự sản xuất chế tạo.

Tuy nhiên, khó khăn nhất với chính phủ của ông Abe là cơ chế, cụ thể là “điều 9 hiến pháp” đã trói buộc, mà muốn xóa bỏ nó thì tác động của bên ngoài mang yếu tố quyết định.

Trung Quốc đã làm rất tốt vai trò tác động này khi biến mình là nguyên nhân duy nhất, nguy hiểm nhất buộc Nhật Bản phải lựa chọn.

Chỉ chưa đầy 2 năm với từng bước đi cụ thể, chính phủ của ông Shinzo Abe đã có những cách giải thích về “điều 9 Hiến pháp”, tiến tới xóa bỏ bằng Luật an ninh mới.

Không rõ Trung Quốc đi nước cờ sai lầm ở Senkaku/Điếu Ngư hay là Nhật Bản, chỉ biết Mỹ đã lợi dụng Senkaku/Điếu Ngư để “cởi trói” Tokyo, cho phép Nhật Bản tham gia sâu, trực tiếp vào cấu trúc an ninh Tây Thái Bình Dương.

Nhưng, điều mà Trung Quốc không muốn, không bao giờ muốn là đối đầu với Nhật Bản tại Biển Đông bất cứ hình thức nào, thì nó đã và đang đến.



HỘI ĐỒNG QUAN HỆ ĐỐI NGOẠI (CFR), MỸ, Sheila Smith

Vấn đề không chỉ nằm ở những tranh chấp lãnh thổ, mà thực chất lý do lớn nhất khiến quan hệ Trung Quốc - Nhật Bản sẽ khó có thể cải thiện là sự mất lòng tin lẫn nhau, sự ngờ vực của một bên đối với các tham vọng trong khu vực của bên còn lại.

Biển Đông, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng từng cảnh báo: "Chỉ cần một hành động thiếu trách nhiệm, gây xung đột sẽ làm gián đoạn dòng hàng hóa khổng lồ này và nhiều nền kinh tế không chỉ trong khu vực mà cả thế giới đều phải gánh chịu hậu quả khôn lường."

Trong khi đó, sự trùng hợp “lạnh sống lưng” giữa Trung Quốc và Nhật Bản là tuyến hàng hải trên Biển Đông đều là “đường sinh mạng”.

Cho nên, dễ hiểu là, Biển Đông chứ không phải là Senkaku/Điếu Ngư mới là "chiến trường chính" của cuộc đối đầu Trung-Nhật vì tính chiến lược sống còn của đôi bên trên đó.

Rõ ràng Trung Quốc đã đi sai nước cờ khi phải đối đầu với một đối thủ mạnh, truyền kiếp quá sớm là Nhật Bản mà nguy cơ “bị loại khỏi vòng bảng” đang ám ảnh bởi “lời nguyền từ Nhật Bản” không phải là điều không thể.




Hạ viện Nhật thông qua dự luật an ninh mới là một thành công lớn của Nội các Thủ tướng Abe (giữa). (Ảnh: AP)

2.Từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”

Phải khẳng định chắc chắn dã tâm của Bắc Kinh muốn chiếm trọn Biển Đông, biến Biển Đông thành “ao nhà” là trước sau như một, không bao giờ thay đổi, không sớm thì muộn. Vấn đề là từng giai đoạn, bước đi thực hiện chiến lược này ra sao mà thôi. Chiến lược thâu tóm Biển Đông của Trung Quốc, đúng ra phải là nước cờ cuối sau khi đã "đuổi" được Mỹ ra khỏi Đông Nam Á và Tây-Thái Bình Dương.

Điều này vốn được thực hiện bằng “cuộc chiến địa chính trị” mà thời gian đầu khi Trung Quốc đang theo đuổi chiến lược “giấu mình chờ thời” ('Tao guang yang hui' Policy) của ông Đặng Tiểu Bình đã tỏ ra rất hiệu quả.

Đáng tiếc, Trung Quốc bị cái tăng trưởng GDP liên tục làm mờ mắt, ảo tưởng sức mạnh của mình và với truyền thống ngạo mạn, bành trướng. Trung Quốc cho rằng không cần “giấu mình”, muốn “ăn” ngay Biển Đông béo bở mà bất chấp tất cả. Hành động của Bắc Kinh trong các tuyên bố chủ quyền phi lý, phi pháp và chuẩn bị quân sự để đe dọa sử dụng sức mạnh… đã bộc lộ mục tiêu, ý đồ nguy hiểm nhất quán của họ. Động thái này đã khiến các quốc gia trong khu vực, bao gồm cả Việt Nam, Nhật Bản… và kể cả Mỹ phản kháng với một tinh thần "ngay và luôn".

Như vậy, vội vàng từ bỏ sách lược “giấu mình chờ thời”, Trung Quốc đã phạm sai lầm lớn về xây dựng thế trận.

Thay vì để Biển Đông tạm thời là một vùng đệm chiến lược, mở rộng vòng vây thì Bắc Kinh lại biến nó thành "vùng nóng", có thể trở thành vùng chiến sự bất cứ lúc nào.
Chính Trung Quốc tự thu hẹp không gian chiến lược của mình.



Nhật Bản có khả năng sát cánh bên Mỹ ở châu Á-Thái Bình Dương trong vai trò một cường quốc quân sự. Điều này đủ khiến Trung Quốc lo sợ?

Tại sao Trung Quốc phản đối quyết liệt Nhật Bản tuần tra trên Biển Đông?

Thực ra, việc tuần tra trên biển, đại dương đề bảo đảm an toàn, an ninh hàng hải là vấn đề thường xuyên, không có gì ghê gớm của các cường quốc biển như Mỹ. Và tuần tra trên Biển Đông - một tuyến hàng hải rất quan trọng của thế giới - cũng không ngoại lệ.

Tuy nhiên, Trung Quốc lại ngang nhiên tuyên bố Biển Đông là chủ quyền của họ nên không ai được quyền đưa máy bay, tàu chiến vào vùng này.

Hành động “tuần tra” trên vùng biển mà Trung Quốc gọi là “chủ quyền” bị Bắc Kinh "bóp méo" là thách thức, tuyên chiến. Đó là lý do vì sao Trung Quốc và Mỹ trở nên căng thẳng quyết liệt đến mức mà báo chí Trung Quốc cho rằng “chiến tranh với Mỹ là không thể tránh khỏi…” khi Mỹ đem máy bay, tàu chiến tuần tra trên Biển Đông.

Và đến khi cả Nhật Bản tuyên bố sẽ “tuần tra” trên Biển Đông với sự hậu thuẫn của Philipines khi dùng căn cứ Subic tiếp tế hậu cần cho Hải quân Nhật Bản thì Trung Quốc "giãy lên như đỉa phải vôi".
Như vậy, khi Mỹ-Nhật Bản bắt tay "tuần tra" trên Biển Đông thì cán cân so sánh lực lượng ở khu vực Tây Thái Bình Dương mà cụ thể là trên biển Hoa Đông và Biển Đông đã hoàn toàn nghiêng về Mỹ bởi Nhật Bản tham gia vào thế trận với tư cách của một cường quốc kinh tế và quân sự. 

Không hồ nghi gì nữa, Tokyo đã sẵn sàng cùng Mỹ tham chiến tại Biển Đông nếu như Trung Quốc có ý đồ chiếm Biển Đông, biến thành “ao nhà”, tức là ngăn chặn, phong tỏa tuyến hàng hải sống còn của Nhật Bản trên vùng biển quốc tế này và đe dọa an ninh Mỹ…

Trước việc “tuần tra” của Mỹ và Nhật Bản trên Biển Đông, Trung Quốc chỉ có thể hoặc là bằng vũ lực, xua đuổi hay đánh đuổi lực lượng tuần tra của Mỹ-Nhật Bản ra khỏi Biển Đông hoặc là tôn trọng luật chơi chung. Vậy, Trung Quốc chọn lựa thế nào đây?

Can Bui

Căng thẳng Biển Đông: Tàu Nhật sắp cập bến Cam Ranh

VOA
30-10-2015



Lực lượng Tự vệ Hàng hải Nhật (JSDF) trong một buổi diễn tập quân sự. Ảnh: Reuters

Lực lượng Tự vệ Hàng hải Nhật sẽ cập bến Vịnh Cam Ranh của Việt Nam trong năm tài khóa 2016, một bước quan trọng trong các nỗ lực của Tokyo hầu tăng cường những hoạt động ở Biển Đông và cùng với đồng minh đối phó trước sự bành trướng của Trung Quốc.

Cảng Cam Ranh nằm gần quần đảo Trường Sa, nơi Bắc Kinh vẫn đang tiếp tục bồi đắp các bãi đá chìm thành những hòn đảo nhân tạo.

Nhật dự kiến năm sau đưa tàu tới Cam Ranh cho các hoạt động tiếp tế nhiên liệu, thực phẩm và các vật phẩm tiếp liệu khác.

Truyền thông Nhật ngày 30/10 loan tin trong chuyến công du Việt Nam vào tuần tới, Bộ trưởng Quốc phòng Nhật, Tướng Nakatani, sẽ ký thỏa thuận về kế hoạch này với người đồng nhiệm phía Việt Nam, Đại tướng Phùng Quang Thanh, trong cuộc gặp ngày 6/11 tại Hà Nội.

Trước hành động lấn lướt của Trung Quốc ở Biển Đông, Việt Nam dự kiến sẽ đưa tàu ngầm tới đặt ở một căn cứ tại Cam Ranh.

Bộ trưởng Quốc phòng Nhật trong chuyến thăm Việt Nam sắp tới cũng sẽ ghé thăm cảng này, một thông điệp rõ ràng của sự hợp tác an ninh hải quân Việt – Nhật.

Tàu của Lực lượng Tự vệ Hàng hải Nhật đã neo đậu tại các cảng ở Sài Gòn, Đà Nẵng cùng một số nơi khác, nhưng các địa điểm này xa các khu vực có tranh chấp ở Biển Đông hơn so với cảng Cam Ranh.

Theo phân tích trên tờ Nikkei Asian Review của Nhật, việc Hà Nội cho phép tàu Nhật tiếp tế nhiên liệu và nhu yếu phẩm tại Cam Ranh sẽ giúp mở rộng rất nhiều tầm hoạt động của Lực lượng Tự vệ Hàng hải Nhật trong khu vực.

Một giới chức chính phủ Nhật được dẫn lời cho biết kế hoạch đưa tàu cập bến Cam Ranh nhằm đối phó với khả năng quân sự hóa của Trung Quốc trong vùng. Giới chức này nhấn mạnh tăng cường sự hiện diện của Nhật tại Cam Ranh sẽ góp phần ngăn cản hoạt động quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông.

Tin này được đưa ra sau khi Mỹ hồi đầu tuần cho tàu chiến tuần tra áp sát các đảo nhân tạo Trung Quốc xây ở Biển Đông trong bối cảnh cả Hoa Kỳ và Nhật Bản đang tìm cách siết chặt hợp tác quân sự với các nước trong vùng trước sự trỗi dậy hung hăng của Trung Quốc.

Tuy nhiên, Nhật vẫn cẩn trọng không muốn khiêu khích Trung Quốc. Tokyo hiện chưa có ý định dùng cảng Cam Ranh cho các hoạt động giám sát và cảnh báo. Các tàu Nhật sắp cập bến Cam Ranh chỉ giới hạn hoạt động trong các nỗ lực chống hải tặc và huấn luyện.

Chưa rõ liệu Việt Nam, Mỹ và các nước khác sẽ khống chế được sự phát triển quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông tới mức nào, nhưng một giới chức Bộ Quốc phòng Nhật nói với báo Nikkei Asia Review rằng cho dù các nỗ lực tuần tra của Mỹ tại vùng biển xung quanh đảo nhân tạo của Trung Quốc có tiếp diễn đi chăng nữa, “chúng ta cũng không thể làm gì ngăn Bắc Kinh xây dựng các đường băng, các cơ sở radar và các công trình khác trên những hòn đảo này”.

Nhiều người lo rằng Trung Quốc càng quân sự hóa Biển Đông, sẽ càng mở rộng khả năng giám sát cùng các hoạt động khác của Bắc Kinh trong khu vực.

Theo Nikkei Asian Review, DPA.

Tại sao cần “trình độ lý luận” khi “cơ cấu”?

Nguyễn Trần Sâm
22-10-2015

Cứ mỗi khi đại hội đảng toàn quốc hoặc địa phương đến gần, người ta lại hay nói đến từ “cơ cấu”.

Từ này nguyên gốc là danh từ, nhưng khi nó được phát ra từ miệng các đảng viên thì thường được hiểu như động từ. Anh ấy “được cơ cấu” tức là được đưa vào danh sách “dự nguồn” cán bộ lãnh đạo. “Mười năm phấn đấu không bằng cơ cấu một lần”, tức là dù nỗ lực thật sự trong nhiều năm nhưng nếu không được bề trên ngó tới để đưa vào danh sách thì cũng chẳng nhằm nhò chi.

Muốn được cơ cấu thì đương nhiên phải thỏa mãn một số tiêu chuẩn. Ở đây sẽ bàn về một trong những tiêu chuẩn đó: “trình độ lý luận”. Nó được hiểu cụ thể là có bằng cấp ở một bậc nào đó về chính trị. Tiêu chuẩn này có thể không phải là quan trọng nhất, vì còn có thể có những tiêu chuẩn được hiểu ngầm nữa, nhưng trong những tiêu chuẩn được xét công khai thì nó gần như là tiêu chuẩn bắt buộc. Muốn được xếp ghế càng cao thì bậc học “lý luận” cũng càng phải cao. Một nhân sự được cấp trên chú ý và có ý định xếp vào một ghế nào đó nhưng chưa có trình độ lý luận tương ứng thì sẽ được bố trí đi “học” để kịp có tấm bằng “lý luận” cần thiết trước khi “cơ cấu”.

Như vậy, có thể nói mỗi quan chức VN hiện nay là một “nhà lý luận”. Cấp càng cao thì trình độ lý luận cũng càng cao. Đến chủ tịch hội đồng lý luận trung ương thì trình độ cao chót vót, đến mức dân đen chúng ta không thể tưởng tượng nổi.

Vậy vì sao mà cái trình độ lý luận đó nó quan trọng đến vậy, đến mức khi “cơ cấu” thì bắt buộc phải xét đến nó?

Theo chính cái “lý luận” mà các quan chức đảng học và dạy lại cho nhau thì những người trong đội ngũ của họ là những người dẫn dắt dân tộc (và nhân loại) trong công cuộc xây dựng cái xã hội ưu việt nhất. Vì cái tính ưu việt nhất đó mà những người xây dựng nó, đặc biệt là những người “lãnh-chỉ đạo”, cần phải học rất nhiều về cái thứ khoa học cao siêu nhất này. Nếu như trong một quốc gia tư bản, các quan chức chỉ cần có bằng cấp về luật hoặc kinh tế, thậm chí có thể “nhảy” sang từ lĩnh vực khoa học tự nhiên (như thủ tướng Đức Angela Merkel hoặc bộ trưởng quốc phòng Mỹ Ashton Carter,…), rồi sau đó học làm chính trị từ thực tiễn hoạt động, thì ở một nước XHCN quan chức nhất thiết phải có “trình độ lý luận”, phải qua các trường đảng. Nói như thế để thấy xây dựng xã hội tư bản chủ nghĩa nó dễ dàng như thế nào, còn xây dựng CNXH thì “học” mãi mà làm vẫn hỏng. Cho nên gần chục nhà nước XHCN mới sụp đổ tan tành. Kể cả Liên Xô, thành trì của phe XHCN, cũng không tránh khỏi tan rã.

Nhưng đó chỉ là những điều mà các quan chức nói ra với dân chúng. Trên thực tế, chẳng ai không hiểu rằng các thứ “lý luận” đó là hoàn toàn vô tích sự. Nó chẳng giúp gì cho việc học hành, làm ăn, nuôi con nuôi cái của chúng ta cả. Không những thế, ngay cả đối với các quan chức thì nó cũng không giúp gì cho việc điều hành bộ máy nhà nước. Thậm chí ngay trong việc thăng tiến của họ, họ cũng không áp dụng tí nào cái thứ học thuyết viển vông đó. Chính họ, trong những phút nói thật với người thân, họ cũng phải thừa nhận rằng tất cả những thứ họ được nghe rao giảng trong các trường đảng, các học viện chính trị, đều là những thứ không đem lại lợi lộc gì cho bất kỳ ai.

Thế nhưng, chính cái sự vô bổ của các thứ “lý luận” nói trên làm cho nó trở nên cực kỳ quan trọng khi “cơ cấu” đấy. Đúng vậy, nếu nó hữu dụng thì nó lại không quan trọng lắm khi lấy nó làm tiêu chí đề bạt. Nó quan trọng chính bởi vì nó nhảm nhí và vô dụng!

Vì sao vậy? Để hiểu rõ sự tình, trước hết xin quý vị hãy nói xem: Một kẻ biết một điều là phi lý, nhưng vẫn nói về nó như nói về chân lý tuyệt đối, chỉ vì điều phi lý đó được thượng cấp nói ra, thì là một kẻ như thế nào? Tất nhiên, đó là một kẻ luôn sẵn sàng đi theo cấp trên, nói theo cấp trên, cùng hành động với cấp trên vì quyền lợi chung của tập đoàn. Quý vị hãy hình dung, liệu một kẻ không chịu nổi những điều phi lý có thể trở thành thuộc hạ tâm phúc của người nói ra những điều phi lý đó hay không? Đương nhiên là không.

Như vậy, khả năng chấp nhận vô điều kiện những điều nhảm nhí mà cấp trên nêu ra chính là một tiêu chuẩn tối quan trọng để làm thước đo về lòng trung thành. Và đó là lý do vì sao “trình độ lý luận” lại quan trọng đến vậy khi “cơ cấu”. Khả năng có thể ngồi im liên tục nhiều giờ để nghe rao giảng những điều phi lý, và cố gắng nói lại sao cho thật giống như đã nghe từ miệng cấp trên, là một khả năng đặc biệt. Nó được “hun đúc” khi người ta ngồi nghe hàng mấy năm trời trong các trường chính trị, ngồi ngày này qua ngày khác trong những buổi họp để nghe cấp trên “dạy bảo”. Những kẻ đã được trui rèn kiểu đó sẽ tạo ra một môi trường an toàn cho sự tồn tại của “hệ thống”.

Đó chính là lý do căn bản để “trình độ lý luận” trở thành một trong những tiêu chí quan trong bậc nhất khi “cơ cấu”.

Chỉ có điều, cái lòng trung thành đó thực ra không hẳn là trung thành với thượng cấp. Chính xác thì đó là sự trung thành với quyền lợi cá nhân của chính mình. Sự trung thành với cấp trên chỉ là bàn đạp để đạt tới quyền lợi cá nhân. Và như vậy, đến khi sự trung thành với cấp trên trở nên mâu thuẫn với quyền lợi cá nhân thì kẻ thuộc hạ sẽ chọn hành động vì quyền lợi. Nghĩa là họ vẫn có thể bán rẻ thượng cấp.

Vạn Lý Trường Thành (trên biển Đông của Trung cộng đang bị Mỹ đục thủng - nmvn)

(VienDongDaily.Com - 28/10/2015)
Bài NGUYỄN ĐẠT THỊNH

Đô đốc Harry B. Harris tư lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương nhận định Trung Cộng đang xây Vạn Lý Trường Thành (VLTT) trên Biển Đông -xây bằng cát bơm từ lòng biển lên, và bằng tham vọng tóm thâu toàn vùng Đông Nam Á, như tham vọng tóm thâu lục quốc ngày xưa. Tham vọng của Trung Quốc đã từng dìm Á Châu trong những cuộc chiến tranh xâm lược phát xuất từ Trung Quốc, và chiến tranh giải phóng dài hàng ngàn năm của những lân quốc bị Trung Quốc cưỡng chiếm và cai trị. Việt Nam đã chịu đựng bốn cuộc chiến tranh như vậy.


Các quân nhân trên chiến hạm USS Lassen đang tập dượt công tác cứu người tại Biển Đông vào cuối tháng Chín 2015. (Hình US Navy)



Nhưng năm nay VLTT cát của Trung Cộng đang bị chọc thủng.
Lực lượng tiên phong trong việc chọc thủng VLTT cát là chiến hạm USS Lassen của Hoa Kỳ. Sáng thứ Ba, 27 tháng Mười, 2015, chiến hạm USS Lassen tiến vào hải phận Trường Sa; Lassen dài 155 thước, trang bị hỏa tiễn điều khiển bằng radar, với một thủy thủ đoàn 320 người, và có tốc độ 56 cây số/giờ.
Chiến hạm này từng đặt dưới quyền chỉ huy của trung tá Lê Bá Hùng từ ngày 23 tháng Tư 2009 đến ngày 17 tháng Chạp 2010.



Chiến hạm USS Lassen


Hạm trưởng Lê Bá Hùng

Trung Cộng cưỡng chiếm Trường Sa và phát động một công tác kiến trúc vĩ đại, thổi cát từ lòng biển lên, biến một phần hải đảo này thành một hòn đảo nhân tạo, đặt tại đó một căn cứ hải quân và tuyên bố chủ quyền lãnh hải trên chu vi 12 hải lý (22 cây số) quanh Trường Sa.

Trung Cộng chiếm Trường Sa và đòi chủ quyền lãnh hải



Dùng cát dưới lòng biển biến một phần hải đảo thành một hòn đảo nhân tạo

Chiến hạm USS Lassen tiến vào vùng lãnh hải 12 hải lý đó, và Trung Cộng không có hành động bảo vệ lãnh hải như họ thường hăm he.

Việc chiếc USS Lassen “vi phạm” hải phận Trường Sa là hành động phủ nhận “chủ quyền” của Trung Cộng tại đây. Trên không phận Trường Sa những chiếc thám thính cơ P-8A và P-3 bay lượn, quan sát.
Bộ Tư Lệnh Thái Bình Dương cho biết những cuộc hải hành tương tự sẽ được tiếp tục. Một viên chức Hoa Kỳ tại Trân Châu Cảng, Hawaii nói với truyền thông, “Cuộc hải hành hôm nay không hề là một diễn biến đơn độc, nó chỉ là diễnbiến đầu tiên trong chương trình hải hành bảo đảm là hải lộ Biển Đông vẫn rộng mở.”

Phát ngôn viên Bạch Cung Josh Earnest xác nhận, “Hàng ngàn tỉ Mỹ kim hàng hóa được vận chuyển trên hải lộ Biển Đông, do đó việc bảo vệ tự do thông thương trên Biển Đông là việc vô cùng quan trọng cho sinh hoạt kinh tế toàn cầu.”

Nguyên tắc "bảo vệ hải lộ" được Hoa Kỳ tuyên bố từ nhiều năm nay, nhưng lần này là lần đầu chiến hạm Hoa Kỳ đi vào vùng "chủ quyền lãnh hải" mà Trung Cộng tuyên bố họ nắm giữ quanh những hải đảo họ cưỡng chiếm trên Biển Đông.

Dân Biểu Randy Forbes, chủ tịch ủy ban Hải Vụ Quân Sự của Hạ Viện cổ võ quyết định của Bạch Cung; Forbes nói, “Việc chiến hạm Hoa Kỳ đi vào vùng 12 hải lý quanh công trình kiến trúc của Trung Cộng là điều cần thiết để ngăn cấm không cho Trung Cộng làm mất thế thăng bằng trên vùng Đông Nam Á.”
Phản ứng của Trung Cộng được giới hạn vào địa hạt ngoại giao; thứ trưởng ngoại giao Trung Cộng Zhang Yesui triệu đại sứ Mỹ Max Baucus lên để phản đối kịch liệt và yêu cầu Hoa Thịnh Đốn ngừng ngay hành động mà Bắc Kinh cho là “đe dọa chủ quyền và các lợi ích an ninh” của Trung Quốc.
Trung Cộng cáo buộc Mỹ “cố ý khiêu khích” và cho biết hành động của Hoa Thịnh Đốn chỉ càng khiến Bắc Kinh đẩy mạnh hơn các hoạt động xây dựng tại Biển Đông. Phát ngôn viên bộ ngoại giao Trung Cộng Lu Kang nói, “Trung Quốc sẽ không dung thứ cho bất kỳ hành động nào gây nguy hại an ninh của Trung Quốc.”

Ông nói Mỹ và Nhật là “những nước ngoài cuộc” trong các tranh chấp ở Biển Đông và không nên can thiệp vào việc này.

Ông Lu Kang từ chối không trả lời câu hỏi của phóng viên truyền thông về việc Trung Cộng có cho tàu chiến, tàu cảnh sát hay phi cơ bám theo chiến hạm Lassen trên đoạn hải lộ chiến hạm này di chuyển bên trong vùng biển thuộc “chủ quyền lãnh hải” của Trung Cộng không, mặc dù truyền thông Trung Cộng loan tin chiến hạm Kunming của Tầu theo sát chiếc Lassen. Thời điểm tàu chiến Mỹ chọc phủng VLTT Biển Đông xảy ra một tháng sau chuyến Mỹ du của chủ tịch Trung Cộng Tập Cận Bình, cho thấy lập trường đối chọi không dung hòa được giữa hai nước về cuộc thôn tính Biển Đông của Trung Cộng.

Tại Hoa Thịnh Đốn, họ Tập nói Trung Quốc không có ý định quân sự hóa những hải đảo họ đang chiếm giữ trên Biển Đông, nhưng lập trường này vẫn chưa đủ đáp ứng đòi hỏi tự do lưu thông của Hoa Kỳ. Bộ Trưởng Quốc Phòng Ash Carter tuyên bố phi cơ và chiến hạm Hoa Kỳ sẽ tiếp tục vận chuyển tự do trên những không phận và hải phận quốc tế, và bà Marise Payne, Bộ Trưởng Quốc Phòng Úc nói Úc sẽ cho phi cơ hoặc chiến hạm thử nghiệm mức độ tự do lưu thông sát cận Trường Sa.

Đang thăm viếng Kazakhstan, Thủ Tướng Nhật Shinzo Abe lên tiếng công khai ủng hộ cuộc hải hành của chiến hạm Lassen trong bài phát biểu tại thủ đô Astana của Kazakhstan; ông nói, “Tôi hiểu việc đó phù hợp với luật pháp quốc tế. Hành động đơn phương của Trung Quốc là mối lo chung đối với cộng đồng quốc tế.”

Tổng Thống Phi Luật Tân Benigno Aquino cũng ra tuyên bố hưởng ứng; ông nói “Tôi cho rằng mọi người đều hoan nghênh việc tái lập cân bằng về quyền lực. Một khi (chiến hạm Mỹ) tuân theo các luật lệ quốc tế, chúng tôi không thấy có vấn đề gì trong việc các tàu này đi qua. Nếu nói ủng hộ tự do hàng hải mà lại tìm cách ngăn cản các tàu bè khác, thì có vẻ không phù hợp,” Tổng Thống Aquino phát biểu trước báo giới.

Trong khi đó, chính phủ Việt Cộng giữ thái độ im lặng.
Nhận định của Đô Đốc Harris, Tư Lệnh Hạm Đội Thái Bình Dương, không chỉ chính xác mà còn thâm thúy nữa, thâm thúy vì bốn chữ “Vạn Lý Trường Thành,” nói lên tham vọng truyền thống của người Tầu là xâm chiếm đất, chiếm biển bằng sức mạnh, rồi xây thành đắp lũy để bảo vệ lãnh thổ, lãnh hải chiếm được.
Cuộc hải hành đi sát Trường Sa của chiếc Lassen, không chỉ quan trọng thôi, mà nó còn vô cùng cần thiết nữa. Thái độ của Trung Cộng không phản ứng quân sự là dấu hiệu họ ý thức được giới hạn sức mạnh quân sự của họ.

Tuy nhiên, trật tự quân sự và kinh tế trên Biển Đông vẫn chưa được giải quyết, ngày nào cảnh sát biển Trung Cộng vẫn có quyền xua đuổi không cho ngư phủ Việt Nam và Phi Luật Tân đánh bắt quanh Trường Sa, vùng sinh sống truyền thống của ngư dân.

Hải Quân Mỹ và chính phủ Mỹ không đơn phương giúp ngư dân Việt Nam được, nếu chính phủ Việt Nam vẫn cứ nín thinh, bình chân như vại trong lúc mọi nước liên hệ đến Biển Đông đều đã nhiệt liệt ủng hộ việc chiến hạm Mỹ chạy qua VLTT Tầu.
(nđt)

Chiến dịch sửa luật hiện nay của nhà cầm quyền CSVN

LM Phan Văn Lợi
1-11-2015

Nhà cầm quyền Việt Namg đang bị quốc tế áp lực phải sửa lại các luật bị thế giới coi là phản nhân quyền của họ, các luật mà chỉ có những chế độ độc tài Cộng sản man rợ mới nghĩ ra, bất chấp sự tụt hậu của đất nước, sự điêu linh của đồng bào, sự hỗn loạn của xã hội, sự toàn cầu hóa về tự do dân chủ và sự tác hại lên nền văn minh chung của nhân loại.

Áp lực đó xuất phát một đàng từ việc Hà Nội đã ngồi trên ghế Hội đồng Nhân quyền LHQ từ hơn một năm và đang bước vào ghế Đối tác xuyên Thái Bình Dương hôm 05-10, đàng khác từ những thông tin của các báo lề trái, những bản lên tiếng của các tổ chức tôn giáo và xã hội dân sự trong nước cũng như những tường trình của các cơ quan chính phủ dân chủ và các tổ chức nhân quyền ngoài nước về các vụ vi phạm quyền con người liên tục của Việt cộng, cụ thể như đàn áp các tín đồ tôn giáo, các nhà dân chủ đối kháng, các tổ chức xã hội dân sự, thậm chí đàn áp dân oan và dân lành.

Trong khoảng một năm gần đây, Quốc hội Việt Nam đang có chiến dịch xây dựng, sửa đổi và xin toàn dân góp ý về một số luật lâu nay gây tranh cãi. Mới nghe thì thấy nhà nước VN quả là thiện chí đầy mình, khiến nhiều người hy vọng. Vì theo quan niệm thông thường, người ta xây dựng hay sửa đổi luật là để đáp ứng hoàn cảnh biến đổi, canh tân tình trạng đất nước, cải thiện quan hệ xã hội, bảo vệ trật tự quốc gia và phục vụ cuộc sống công dân sao cho tốt đẹp.

Thế nhưng trước hết, nên xem thử nhà cầm quyền CSVN quan niệm thế nào về luật pháp. Thiết tưởng chỉ cần mở Bách khoa toàn thư mở Wikipedia tiếng Việt –nơi mà Hà Nội đã và đang thao túng lũng đoạn, thậm chí xuyên tạc- thì thấy ngay. Wikipedia định nghĩa Luật pháp thế này: “

Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế”. Xin lưu ý cụm từ “thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền”. Trong khi từ điển thông thường định nghĩa: “Luật pháp là những quy phạm hành vi do nhà nước ban hành, mọi công dân buộc phải tuân theo, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và bảo vệ trật tự xã hội” (Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex).

Đi vào thực tế, chỉ cần điểm qua dự thảo Luật tín ngưỡng tôn giáo, Luật về hội, Luật hình sự sửa đổi và phản ứng của người dân thì rõ tâm địa của đảng và nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam.

1- Dự thảo Luật tín ngưỡng tôn giáo (LTNTG).

Dự thảo này, nay đã tới bản số 5. Trước hết, ta phải tự hỏi làm sao một Nhà nước vô thần đấu tranh (nghĩa là quyết liệt xem tôn giáo như thuốc phiện nguy hại, khác với vô thần hưởng thụ bên tư bản xem tôn giáo chẳng hề cần thiết) và những viên chức không kinh nghiệm tâm linh tôn giáo –thậm chí thuộc bộ Công an (trưởng ban tôn giáo chính phủ hiện thời là trung tướng công an Phạm Dũng)– lại nhảy ra lập luật cho người có tín ngưỡng và nhất là cho niềm tin tôn giáo? Thứ đến, so với Pháp lệnh Tín ngưỡng Tôn giáo năm 2004 có 6 chương 41 điều, DLTNTG năm 2015 lại có tới 12 chương 71 điều, nghĩa là tinh vi hơn, siết chặt hơn. Nó tiếp tục củng cố cơ chế xin-cho, với đủ mọi loại giấy phép (thể hiện qua những kiểu nói “đăng ký” [nghĩa là xin phép, 23 từ], “chấp thuận” [37 từ], “nhà nước/cơ quan nhà nước công nhận” [10 từ], “quy định” [36 từ] trong đó “quy định của pháp luật” [15 từ]). Một từ ngữ khác, “thông báo” (9 lần) cũng có nghĩa là phải xin phép. Nói tóm, không có chuyện nào trong tôn giáo mà các Giáo hội không phải xin phép nhưng nhà cầm quyền lại chẳng bị buộc phải cho phép! Tất cả nhằm mục đích giới hạn tự do tôn giáo cách nghiêm ngặt hơn và kiểm soát, khống chế, lũng đoạn các Giáo hội cách thâm độc hơn. Nghĩa là buộc các Giáo hội phải im tiếng trước sai lầm và tội ác của nhà cầm quyền, phải khiêm tốn và nhẫn nại xin nhà nước thí ban cho các ân huệ, và tốt nhất là trở thành công cụ phục vụ chế độ, biết kết hợp nhuần nhuyễn “đạo pháp/giáo lý với xã hội chủ nghĩa”, biết khi thì làm chức sắc phục vụ, khi thì làm công an chỉ điểm! Có thế nhà nước mới nắm được tôn giáo chớ! Thứ ba, DLTNTG có rất nhiều từ ngữ và điều khoản mơ hồ, như “bảo hộ” (thế nào là bảo hộ?), “hợp pháp” (thế nào là hợp pháp?), “hoạt động trái pháp luật” (thế nào là hoạt động trái pháp luật?), nhất là ở Điều 6 (Các hành vi bị nghiêm cấm), khoản 5b, c, d, đ và khoản 7. Tất cả tạo cơ hội để nhà cầm quyền và các viên chức địa phương tha hồ giải thích tùy tiện nhằm cấm cản hay thậm chí đòi hối lộ. Thứ bốn, bản văn có rất nhiều điều khoản mâu thuẫn với nhau. Chương X và chương XI không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo, hoàn toàn mang tính chất áp đặt quyền lực của Nhà nước lên các Giáo hội và tổ chức Giáo hội, thành thử mâu thuẫn với Điều 2 trong Dự thảo cũng như với HP 2013. Nhất là mâu thuẫn với Công ước Quốc tế về các quyền Chính trị và Dân sự (điều 18) mà Việt Nam đã ký kết. Tóm tắt, DLTNTG muốn biến các quyền và tự do tôn giáo hay tín ngưỡng thành tội phạm hình sự! Nghĩa là không xin phép tức vi phạm luật.

Chính vì thế, Hội đồng Giám mục VN, trong Nhận định và góp ý đưa ra ngày 04 tháng 5, có viết: “Dự thảo 4 chưa làm rõ mục đích của luật, vì luật được tạo ra nhằm đảm bảo quyền con người, tạo sự bình đẳng cho các tổ chức, cá nhân có cơ hội đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước, đem lại bình an cho xã hội cùng cộng đồng dân tộc. Điều kiện tiên quyết đem lại bình an cho cộng đồng dân tộc là việc người dân chu toàn bổn phận làm người, – tu thân, tề gia, trị quốc, – phải mang tính thiên thời, địa lợi, nhân hoà. Thiên thời là thuận ý trời. Địa lợi là lợi cho truyền thống văn hoá đạo đức dân tộc. Nhân hòa là hoà với lòng nhân, lòng đạo của người dân. Trong bản Dự thảo 4 có những điều luật chỉ nhằm mang lại quyền lợi cho nhà cầm quyền (như Điều 9, cùng những Điều nói về việc đăng ký…), mà quên đi quyền lợi của người dân, chưa làm rõ tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo. Điều thiếu sót quan trọng nhất của Dự thảo 4 là không công nhận sự “tồn tại” hợp pháp của một tổ chức tôn giáo trước pháp luật Việt Nam, qua việc không công nhận tổ chức tôn giáo là một “pháp nhân” chiếu theo Điều 84-85 của Bộ Luật Dân sự 2005”. Và cuối cùng Hội đồng GMVN thẳng thừng phán quyết: “Dự thảo 4 đi ngược lại với Tuyên ngôn Nhân quyền Quốc tế (Điều 18) và Hiến pháp 2013 (Điều 24). Chúng tôi nhận thấy nó là một bước thụt lùi so với Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo năm 2004”.

Hiện giờ thì đã xuất hiện Dự thảo thứ 5, nhưng nó cũng chỉ có những sửa đổi râu ria, nên Hội đồng Liên tôn, trong Bản trình bày về hiện tình tôn giáo tại VN (gởi đến Hội nghị về Tự do tôn giáo vùng Đông Nam Á họp tại Bangkok hôm 29-09), đã tố cáo: “a- Một Nhà nước vô thần với những chuyên viên không có kinh nghiệm sống tôn giáo –thậm chí thuộc bộ Công an- lại lập luật cho niềm tin tôn giáo và cho người có tín ngưỡng. Đó chỉ có thể là một luật kiểm soát sự hình thành và hoạt động của các tôn giáo mà thôi. Dự thảo LTNTG dài gấp đôi Pháp lệnh 2004, do đó tinh vi hơn và siết chặt hơn. b- Dự thảo LTNTG vẫn tiếp tục cơ chế “xin-cho”, nghĩa là buộc phải xin phép đối với mọi hoạt động lớn nhỏ của các Giáo hội, từ việc tổ chức cơ cấu, huấn luyện nhân sự, thủ đắc tài sản, đến việc sinh hoạt phụng thờ, truyền bá giáo lý và liên hệ quốc tế… Mục đích là kiểm soát, khống chế, lũng đoạn các Giáo hội, giới hạn các tôn giáo một cách nghiêm ngặt hơn nữa và hình sự hóa mọi quyền liên quan đến tự do tôn giáo (nghĩa là không xin phép, tức vi phạm luật)”.

Ngày 14 tháng 10 vừa qua, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố bản phúc trình thường niên về tình trạng tự do tôn giáo trên thế giới, trong đó có Việt Nam, cho năm 2014. Trong phần phát biểu với báo chí, Đại sứ Lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế David Saperstein, người chịu trách nhiệm về bản phúc trình, nêu đích danh Việt Nam là trường hợp điển hình của sự vi phạm tự do tôn giáo theo chính sách. Ông nói: “Trong các lần đến Việt Nam, tôi tận mắt thấy các nhóm tôn giáo bị buộc phải trải qua quá trình đăng ký khó nhọc và tùy tiện để được hoạt động hợp pháp. Nhân việc Việt Nam đang xem xét việc tu chính các luật về tôn giáo, chúng tôi đứng cùng với các cộng đồng tôn giáo của quốc gia này trong việc kêu gọi sự nới lỏng các điều khoản bó buộc ấy.”

Và như để áp dụng ngay Dự thảo, trong năm nay người ta thấy có thêm nhiều vụ vi phạm quyền tự do tôn giáo. Bằng chứng là Hội đồng Liên tôn, mới hôm 10-10, đã ra một kháng thư tố cáo 5 vụ đàn áp sách nhiễu nghiêm trọng nhắm vào Hội đồng và nhiều vụ nhắm vào cá nhân các thành viên. Mới hơn, ngày 13-10, Sở Nội vụ tỉnh Kontum đã có thông báo gửi Tòa Giám mục Kontum về việc không chấp thuận cho một Linh mục thuộc Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn hướng dẫn tĩnh tâm cho các Linh mục trong giáo phận, mà không nêu rõ lý do. Đây là sự can thiệp trắng trợn vào chuyện nội bộ của Giáo hội Công giáo, đúng theo tinh thần Dự thảo của CS.

2- Dự thảo Luật về Hội.

Hội là một tổ chức tập thể của công dân, mang bản tính tự do, tự nguyện, tự chịu trách nhiệm, căn cứ theo định nghĩa của Wikipedia về xã hội dân sự: “Xã hội dân sự cấu thành từ tổng thể của các tổ chức xã hội và dân sự tự nguyện mà các tổ chức này tạo nên cơ sở của một xã hội tự vận hành, khác với các cấu trúc quyền lực của một nhà nước (bất kể hệ thống chính trị của nhà nước này thuộc kiểu gì) và các thể chế thương mại của thị trường…”

Thế nhưng, theo nhận xét chung của nhiều chuyên gia luật học, dự thảo Luật về Hội của nhà cầm quyền CSVN –với 37 điều, dự tính có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 và nhằm thay thế sắc lệnh số 102/SL/L004 ngày 20-5-1957 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành Luật quy định quyền lập hội- dự thảo đó đã trao cho cơ quan quản lý nhà nước quyền can thiệp quá sâu vào quá trình thành lập, nhân sự và hoạt động của hội. Xin nêu một vài điểm cụ thể trong Dự thảo:

– Khoản 3 điều 9 quy định về điều kiện thành lập Hội: “Lĩnh vực hoạt động chính không trùng lắp với lĩnh vực hoạt động chính của hội đã được thành lập hợp pháp trước đó trong cùng phạm vi hoạt động.” Quy định này hạn chế các tổ chức mới được thành lập nay mai. Bởi lẽ các hội do nhà cầm quyền thành lập trước đó (trên 40, đang quy tụ trong cái rọ Mặt trận Tổ quốc) đã bao quát hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chẳng hạn Tổng liên đoàn lao động, Hội nông dân, Hội liên hiệp Phụ nữ, Hội cựu chiến binh, Liên hiệp các hội khoa học và kỹ thuật, Hiệp hội các hội văn học – nghệ thuật… Qui định trên cũng không tạo ra sự cạnh tranh trong hoạt động hợp pháp của các tổ chức hội, trái lại tạo ra sự độc quyền và độc đoán của các hội do nhà nước đẻ ra. Như thế là tước quyền tự do lựa chọn hay thành lập hội theo nhu cầu của công dân.

– Khoản 1 điều 10: “Công dân, tổ chức VN có nhu cầu thành lập hội phải dự kiến danh sách những người tham gia ban vận động hội, đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận ban thành lập hội.” Ban vận động thành lập hội có ý nghĩa quyết định đến việc ra đời của hội. Nếu nó không được nhà cầm quyền công nhận thì hội sẽ chẳng bao giờ hình thành cả. Buộc ban vận động thành lập phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận là chuyện vô lý và ngang ngược. Đây là thủ đoạn để nhà cầm quyền loại bỏ ngay từ đầu những ai tham gia thành lập hội mà họ không ưa thích, cụ thể là những ai từng tranh đấu cho nhân quyền dân chủ.

– Khoản 4 điều 21 qui định: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận và bãi nhiệm chức danh người đứng đầu hội.” Việc bầu người đứng đầu hội là do đa số các thành viên của hội tự do lựa chọn và quyết định. Cơ quan quản lý nhà nước không có quyền can thiệp vào công việc nội bộ của hội và càng không có quyền công nhận hay bãi nhiệm chức danh người đứng đầu hội.

Ngoài ra còn có các qui định can thiệp vào quá trình hoạt động của hội, như khoản 6 điều 20: “30 ngày trước khi đại hội, ban lãnh đạo hội phải gửi thông báo bằng văn bản tới cơ quan nhà nước có thẩm quyền và chỉ được tổ chức đại hội khi có ý kiến chấp thuận của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.” Đúng ra, ban lãnh đạo hội chỉ cần gửi thông báo về thời gian, địa điểm diễn ra đại hội của tổ chức hội, chẳng cần phải có ý kiến chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước.

Vài phân tích trên cho thấy dự thảo Luật về hội không tôn trọng quyền tự do lập hội của Nhân dân, không tôn trọng nguyên tắc tự do, tự nguyện và tự chịu trách nhiệm của tổ chức hội. Rõ ràng nó nhắm mục đích hạn chế, kiểm soát các tổ chức xã hội dân sự độc lập vốn đang nẩy sinh ngày càng nhiều. Đồng thời các qui định này cũng đi ngược với luật pháp quốc tế. Lời nói đầu của Nghị quyết 15/21 của Hội đồng Nhân quyền có viết: “Quyền tự do lập hội là một trong những thành tố thiết yếu của xã hội dân chủ. vì nó cho phép các thành viên “bày tỏ quan điểm chính trị, tham gia vào các mục tiêu văn học và nghệ thuật và các hoạt động kinh tế, xã hội và văn hóa khác, tham gia vào việc thờ phụng tôn giáo và các niềm tin khác, hình thành và gia nhập các tổ chức công đoàn và hợp tác xã, bầu chọn những người lãnh đạo đại diện cho mình và buộc họ phải chịu trách nhiệm“. Cẩm nang giúp thực hiện Quyền tư do lập Hội xuất phát từ văn phòng Báo Cáo Viên Đặc Biệt LHQ về tự do tụ tập ôn hoà và lập hội cũng có viết: “Quyền Tự do Lập hội là gì? Nói một cách đơn giản, quyền tự do lập hội bảo vệ cho bạn quyền thành lập hoặc gia nhập một nhóm người có cùng lập trường như bạn nhằm theo đuổi những lợi ích chung. Nhóm này có thể là chính thức hoặc không chính thức, và không có bất cứ yêu cầu nào buộc hội này phải đăng ký thì quyền tự do lập hội mới được áp dụng (A/HRC/20/27, trang 14, đoạn 56). Chỉ cần hai người là đủ để thành lập một hội (A/HRC/20/27, trang 14, đoạn 54)” và “Tại sao quyền tự do Lập hội quan trọng như thế? Quyền tự do lập hội là một trong số những nhân quyền quan trọng nhất mà chúng ta sở hữu. Nó là một trong số những quyền cốt lõi – cùng với quyền tự do tụ tập ôn hòa – được thiết kế để bảo vệ khả năng ngồi lại với nhau và phục vụ lợi ích chung của con người. Nó là phương tiện thực hiện nhiều quyền dân sự, văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội khác (A/HRC/20/27, trang 5, đoạn 12). Quyền tự do lập hội cũng đóng vai trò quyết định trong sự xuất hiện và tồn tại của các hệ thống dân chủ hữu hiệu bởi vì chúng là một kênh cho phép sự đối thoại, chế độ đa nguyên, tinh thần khoan dung và đầu óc cởi mở, ở đó các niềm tin hoặc quan điểm đối lập hoặc thiểu số được tôn trọng (A/HRC/20/27, trang 20 đoạn 84)”

Tóm tắt lại, Dự thảo Luật về Hội cho thấy nhà cầm quyền Việt cộng không hề từ bỏ não trạng độc tài (duy mình có quyền lực) và toàn trị (phải kiểm soát mọi tổ chức), để cuối cùng công cụ hóa hay ít nhất tê liệt hóa tất cả các thực thể trong xã hội. Chính vì thế mà hôm 01-08-2015, 22 tổ chức xã hội dân sự độc lập tại VN đã có bản lên tiếng phê bình gắt gao và tố cáo thậm tệ Dự thảo này. Phần tiến sĩ Nguyễn Quang A, trao đổi với BBC hôm 24-9/2015, ngay sau khi dự thảo trên được đệ trình, phát biểu đại ý như sau: quan điểm cho rằng ‘dự thảo’ mới là ‘tích cực’ và ‘tiến bộ’ thì đó là một sự ‘ngộ nhận’. Đây là một dự thảo còn tồi hơn cả Dự thảo mười năm trước. Lại nữa, một cái luật để kiểm soát các hội, một luật để quản lý các hội không phải là điều cần có.

3- Dự thảo Bộ luật Hình sự sửa đổi.

Ai cũng biết Bộ luật Hình sự là một văn bản qui định tội phạm và hình phạt có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền tự do và quyền bất khả xâm phạm về thân thể của con người, đến danh dự, nhân phẩm, sức khỏe, tính mạng,…. của công dân. Bởi thế các hành vi phạm tội được định nghĩa và mô tả trong các điều luật phải rõ ràng và minh bạch, khoa học và cụ thể. Các hành vi bị coi là phạm tội phải thực sự là những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, cần phải ngăn chặn và trừng phạt.

Thế nhưng, trong dự thảo Bộ luật HS sửa đổi lần này- với 443 điều, được trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội cho ý kiến tại phiên họp thứ 41, tháng 9/2015- có rất nhiều qui định mơ hồ, không rõ rệt, rất dễ giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng lạm quyền để bắt giam, điều tra, truy tố, xét xử người vô tội, xâm phạm tới quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Xin nêu vài thí dụ:

– Điều 109. “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân: Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau: 1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình; 2. Người đồng phạm khác thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm; 3. Người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Về điều này, trước hết phải xác định “chính quyền nhân dân” là một danh từ lạm xưng. Ở VN hiện nay, nhân dân chưa bao giờ thực sự được bầu ra một chính quyền cho mình cả. Chính quyền này là do đảng CS tạo ra sau khi đoạt được quyền lực bằng vũ lực. Đó chỉ là chính quyền cộng sản. Nhưng thôi, hãy nói về nội dung điều 109 này. Khoản 3 thật đáng lưu ý. Người chuẩn bị phạm tội trong trường hợp này là người đang tìm hiểu để thành lập tổ chức, hoặc tìm hiểu về một tổ chức nào đó để tham gia. Hành vi của họ chưa tác động lên xã hội, chưa gây bất cứ nguy hiểm gì cho xã hội. Hoặc sau khi tìm hiểu, họ chỉ dừng lại ở đó mà không thành lập cũng chẳng tham gia vào một tổ chức nào. Do đó hành vi của họ hoàn toàn không thể bị coi là phạm luật và bản thân họ không thể bị coi là tội phạm. Đúng là một quy định hết sức man rợ và vô lý giữa nền luật pháp loài người.

– Điều 117. “Tội làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước CHXHCN VN: 1. Người nào có một trong những hành vi sau đây nhằm chống Nhà nước CHXHCN VN, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 12 năm: a) Làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu có nội dung phỉ báng chính quyền nhân dân; b) Làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu gây hoang mang trong nhân dân. 2. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 20 năm.3. Người chuẩn bị phạm tội này thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm”. Một người làm ra, tàng trữ các thông tin, tài liệu có nội dung phỉ báng chính quyền mà không phát tán thì chả có ai biết. Như thế chẳng gây ra bất cứ hậu quả nào cho xã hội và nhà cầm quyền cả. Ngoài ra, hành vi làm và tàng trữ thông tin, tài liệu có nội dung phỉ báng chính quyền không thể coi là vi phạm pháp luật, là hành vi phạm tội vì đó là quyền phê phán nhận định của công dân. Thứ đến, cụm từ “gây hoang mang trong nhân dân” hết sức hàm hồ. Bởi trong thực tế, có rất nhiều công dân, cơ quan báo chí đưa những thông tin, tài liệu có thật về chính trị, kinh tế, xã hội,… rồi nhiều công dân khác chia sẻ chúng trên mạng xã hội. Và tất nhiên chúng sẽ gây ra sự lo lắng, hoang mang cho mọi người. Nhưng đó là sự thật và nằm trong quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Ngoài ra, điều 177 này còn khiến người ta nhớ đến điều 88 điều thường luật bị quốc tế lên án và đòi hỏi gỡ bỏ. Trước sức ép của quốc tế, Quốc hội VN cân nhắc gỡ bỏ điều 88 này. Nhưng đó chẳng phải là tiến bộ, nhân nhượng. Trái lại điều 117 còn vô nhân đạo hơn điều 88 cũ, vì bổ sung thêm cái mà điều 88 không có. Đó là kể cả người chuẩn bị phạm tội làm ra, tàng trữ, tán phán tài liệu phỉ báng chính quyền, làm hoang mang trong nhân dân nhằm chống nhà nước … cũng bị kết án tù từ 1 đến 5 năm. Đây là chi tiết mà điều 88 trước đó vốn bị lên án nặng nề không quy định.

– Điều 297. «Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin mạng máy tính, mạng viễn thông: 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây xâm phạm lợi ích của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc xâm phạm trật tự, an toàn xã hội thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Đưa lên mạng máy tính, mạng viễn thông những thông tin trái với quy định của pháp luật, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 117 và Điều 338 của Bộ luật này;… c) Hành vi khác sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông».

Về điểm a trên đây, chúng ta tự hỏi «… những thông tin trái với qui định của pháp luật» là những thông tin gì? Qui định ở văn bản pháp luật nào? Rõ ràng đó là một sự mơ hồ, không minh bạch, chắc chắn sẽ dẫn đến tình trạng qui kết, chụp mũ, áp dụng bừa bãi của các cơ quan tố tụng, xâm phạm trực tiếp đến quyền tiếp cận thông tin, quyền được thông tin, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Về điểm c, thì trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng xã hội có vô vàn thông tin. ‘Các hành vi khác sử dụng trái phép’ nói ở qui định này cũng rất chung chung, mơ hồ, chắc chắn sẽ dẫn đến việc áp dụng một cách bừa bãi, xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân. Và thực tế đã dẫn đến sự kiện vô số nhà báo tự do, tay viết độc lập, bloggers dân chủ tại VN đã bị sách nhiễu, cấm cản, bỏ tù.

– Điều 343. “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân: 1. Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.

Về điều này, luật sư nhân quyền Nguyễn Văn Đài nhận định: “…các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác…” là các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận trong Hiến pháp. Công dân có quyền sử dụng các quyền tự do dân chủ của mình để bày tỏ sự đồng tình, ủng hộ chính quyền, Nhà nước,… hoặc bày tỏ sự bất bình, phản đối, phê phán chính quyền, Nhà nước khi có các chính sách, đường lối không phù hợp, xâm phạm đến lợi ích của Nhân dân. Bởi lẽ tất cả các chính sách, pháp luật,… của chính quyền, Nhà nước không bao giờ bảo đảm đem lại lợi ích cho 100% Nhân dân. Chắc chắn sẽ có những nhóm thiểu số trong xã hội bị ảnh hưởng. Và những nhóm bị ảnh hưởng có quyền sử dụng các quyền tự do dân chủ để bày tỏ sự bất bình, phản đối, phê phán chính quyền, Nhà nước. Thậm chí những người hoặc các nhóm người không bị ảnh hưởng nhưng họ có quyền bày tỏ sự bất bình, phản đối, phê phán chính quyền, Nhà nước. Tất cả mọi người dân chỉ sử dụng các quyền tự do dân chủ của họ mà đã được Hiến pháp qui định. Không có công dân nào lại đi lợi dụng chính các quyền hiến định của mình. Qui định của điều 343 sẽ bóp chết các quyền tự do dân chủ của Nhân dân. Bóp chết các tiếng nói phản biện xã hội. Không thúc đẩy sự phát triển lành mạnh, minh bạch của xã hội. Cản trở tiến trình dân chủ hóa và kìm hãm sự phát triển của đất nước.

Ngoài ra, trong Bộ luật Hình sự sửa đổi lần này, có hai điều sửa đổi đáng lưu ý là điều 390. Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật. và điều 156. Tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật. Điều 390. “Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật. 1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn thực hiện một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Không ra quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật; b) Quyết định bắt, giữ, giam người không có căn cứ theo quy định của pháp luật; c) Không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật; d) Thực hiện việc bắt, giữ, giam người không có lệnh theo quy định hoặc tuy có lệnh nhưng chưa có hiệu lực thi hành. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: b) Làm người bị giam, giữ trái pháp luật tổn hại về sức khỏe từ 31% đến 60%; c) Làm người bị giam, giữ hoặc gia đình họ kiệt quệ về kinh tế; d) Đối với người chưa thành niên, người già yếu, người khuyết tật nặng; đ) Gây hậu quả nghiêm trọng khác. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm: a) Làm người bị giam, giữ trái pháp luật tổn hại về sức khỏe từ 61% trở lên hoặc chết; b) Làm nạn nhân tự sát; c) Làm gia đình nạn nhân tan nát, ly tán; d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác”. Thế nhưng, vụ Đỗ Đăng Dư đang gây xôn xao dư luận với những tình tiết từ lý do giam nhốt, hoàn cảnh giam giữ, đến chuyện đưa vào bệnh viện Hà Đông rồi Bạch Mai, từ chuyện em Dư tử vong rồi được an táng đến chuyện gia đình hậu an táng, thái độ của công an đến thái độ của bác sĩ trong toàn bộ vụ việc, từ phản ứng của công luận tới phản ứng của của nhà cầm quyền… Tất cả vụ việc đó cùng gần 300 vụ dân oan bị chế trong đồn công an, trong trại tạm giam mà không hề được xử lý rốt ráo, đúng pháp luật quy chuẩn cho thấy hai điều 390 và 156 chỉ là những trò lừa gạt, có sửa đổi cũng chỉ để làm cảnh.

Kết luận

Chính vì thế, các luật lệ hiện hành tại VN, từ Hiến pháp trở xuống, đều chỉ nhằm mục tiêu củng cố và duy trì dài lâu quyền lực độc tôn của đảng CS. Việc sửa đổi các luật này -mà nhà cầm quyền hiện đang biến thành một chiến dịch do sự thúc bách của Quốc tế và với cái gọi là “sự góp ý của toàn dân”- cũng không ra ngoài mục tiêu ấy. Hà Nội tìm đủ chiêu trò, mánh khóe, để dù có sửa đổi bao nhiêu, các luật đó vẫn giữ bản chất là sức mạnh pháp lý củng cố chế độ cũng như đảng cầm quyền. Đúng như định nghĩa về Luật pháp mà họ muốn trình bày với công luận qua Từ điển Bách khoa mở Wikipedia mà chúng tôi nói ở đầu: “

Luật pháp là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế”.

Nói tóm lại, chiến dịch sửa luật lần này của Hà Nội chẳng phải là để cởi mở theo chiều hướng nhân đạo và dân chủ theo yêu cầu của quốc tế, đòi hỏi của nhân dân chỉ là để siết luật hơn. Chiến dịch đó cho thấy nhà cầm quyền Việt cộng ngày càng thêm thách thức và bất chấp, độc tài và nham hiểm, dối trá và hung bạo. Để làm gì? Để củng cố quyền lực đang bị lung lay trước ý thức ngày càng rõ và phản kháng ngày càng mạnh của nhân dân. Củng cố quyền lực để tiếp tục bóc lột, vơ vét tư sản lẫn công sản cho cạn kiệt, rồi dông thẳng ra ngoại quốc, để lại một quê hương điêu tàn cho bọn ngoại thù Bắc phương đang dòm ngó và chực sẵn.