4/28/2015

"ngày Quốc Hận 30/4" tại Sài Gòn










dv

CHIẾN TRANH VIỆT NAM (1954-75) CÓ THỰC SỰ CẦN THIẾT?



Liên quan đến biến cố 30 tháng Tư 1975, có một câu nói của một quan sát viên quốc tế mà tôi rất tâm đắc: “Không có ai chiến thắng cả. Tất cả đều là nạn nhân” (There were no winners, only victims).

Nhưng tại sao lại không có người chiến thắng?

Trước hết, không còn hoài nghi gì nữa, người miền Nam chắc chắn là những người thua cuộc và từ đó, là những nạn nhân không những của chiến tranh mà còn của hoà bình với hàng trăm ngàn người bị bắt đi cải tạo, hàng triệu người liều mạng vượt biển để tìm tự do và hầu như tất cả đều sống trong cảnh vừa lầm than vừa bị áp bức.

Mỹ cũng không phải là những kẻ chiến thắng. Nói cho đúng, họ thắng trong cuộc chiến tranh lạnh với khối xã hội chủ nghĩa bằng việc phân hoá Trung Quốc và Liên Xô đồng thời bằng cách vô hiệu hoá hiệu ứng liên hoàn, gắn liền với thuyết domino vốn là nguyên nhân chính khiến họ tham dự vào cuộc chiến tranh ở Việt Nam. Về phương diện quân sự, họ không thắng không bại: họ đã rút quân ra khỏi Việt Nam mấy năm trước khi cuộc chiến tranh chấm dứt. Tuy nhiên, về phương diện chính trị, họ đã thất bại trong nỗ lực bảo vệ một đồng minh là chế độ Việt Nam Cộng Hoà ở miền Nam. Sau đó, về phương diện tâm lý, họ là những nạn nhân với hội chứng Việt Nam, một ám ảnh đầy day dứt trong lương tâm của những người từng tham chiến. Đó là chưa kể hơn 58.000 người lính bỏ mình tại Việt Nam cũng như hàng mấy trăm ngàn người bị thương tật trở thành một gánh nặng trong xã hội Mỹ.

Thế còn miền Bắc?

Đương nhiên họ là những người thắng cuộc. Thắng về quân sự: đánh bại được quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Thắng về chính trị: thống nhất được đất nước sau 20 năm chia cắt. Tuy nhiên, bên cạnh những chiến thắng ấy, họ cũng gánh chịu không ít thất bại. Những thất bại ấy làm cho chiến thắng của họ trở thành một tai hoạ cho mọi người.

Trước hết, như là hệ quả của việc chà đạp lên hiệp định Paris, xua quân cưỡng chiếm miền Nam, Việt Nam phải gánh chịu sự cô lập hoàn toàn với thế giới bên ngoài. Trừ Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa, họ không có một người bạn nào cả. Ngay cả với một nước đồng minh thân cận từng giúp đỡ họ cả mấy chục năm, Trung Quốc, cũng biến thành kẻ thù với hậu quả là, ngay sau chiến tranh Nam -Bắc chấm dứt, Việt Nam phải chịu đựng thêm hai cuộc chiến tranh mới: chiến tranh với Campuchia và chiến tranh với Trung Quốc.
Hệ quả của tất cả những điều vừa nêu là, về phương diện kinh tế, Việt Nam hoàn toàn kiệt quệ. Lạm phát tăng nhanh; nạn đói lúc nào cũng lởn vởn trước mắt mọi người. Trong nhiều năm, ngay cả lúa gạo, nguồn thực phẩm chính và cũng là điểm mạnh của miền Nam, cũng bị thiếu hụt nghiêm trọng. Dân chúng phải thường xuyên ăn độn hoặc ăn bo bo để thế cơm. Việt Nam trở thành một trong những quốc gia nghèo khó và chậm phát triển nhất thế giới.

Về phương diện xã hội, hầu như mọi người đều bị lâm vào cảnh khốn cùng. Mâu thuẫn giữa hai miền Nam và Bắc càng lúc càng sâu sắc. Sự thống nhất chỉ có trên phương diện chính trị và hành chính, nhưng về tâm lý, nhìn nhau, dân chúng giữa hai miền vẫn đầy những nghi kỵ và đố kỵ.

Về phương diện chính trị, dân chúng không còn chút tự do nào cả. Tự do tư tưởng: Không. Tự do ngôn luận: Không. Tự do cư trú và tự do đi lại: Không. Tất cả các quyền tự do căn bản của dân chủ, từ tự do hội họp đến tự do thành lập và tham gia vào đảng phái đều bị tước sạch.

Có thể nói, trong hơn mười năm, từ 1975 đến 1985, khi phong trào đổi mới xuất hiện, ở Việt Nam, dân chúng trong cả nước đều chia sẻ nỗi bất hạnh chung xuất phát từ việc miền Bắc thắng miền Nam. Không có gì quá đáng nếu chúng ta nói, trừ giới lãnh đạo cộng sản, tất cả mọi người đều là nạn nhân của biến cố 30 tháng Tư 1975. Không phải chỉ những người bị bắt đi học tập cải tạo hoặc bị lùa đi kinh tế mới mới là nạn nhân: Tất cả mọi người đều là nạn nhân. Không phải chỉ những người bị bỏ mình trên biển mới là nạn nhân, ngay cả những người may mắn vượt thoát và được định cư ở nước ngoài cũng là nạn nhân: họ phải xa lìa tổ quốc để sống tha hương, không lúc nào nguôi nỗi khắc khoải trông ngóng về đất nước cũ.

Nhưng nếu mọi người đều là nạn nhân, cuộc chiến tranh Nam Bắc vốn kéo dài hai mươi năm có thực sự cần thiết hay không?

Bộ máy tuyên truyền của miền Bắc trước năm 1975 cũng như trong cả nước sau năm 1975 nêu lên ba lý do chính tại sao miền Bắc phát động cuộc chiến tranh ấy: Một, để giải phóng miền Nam; hai, để phát triển chủ nghĩa xã hội sang nửa phần lãnh thổ còn chịu khổ nạn dưới ách “áp bức” của Mỹ và “nguỵ”; và ba, để đánh bại sự “xâm lược” của “đế quốc” Mỹ.

Xin nói về nguyên nhân thứ ba trước. Đó chỉ là một nguỵ biện. Việc Mỹ đổ cả nửa triệu quân vào miền Nam chỉ là để giúp miền Nam chống lại sự xâm lấn của miền Bắc. Như vậy, nó chỉ là hậu quả chứ không phải là nguyên nhân. Nói cách khác, nếu miền Bắc không mưu toan đánh chiếm miền Nam, chả có lý do gì để Mỹ đổ quân vào miền Nam cả.

Về nguyên nhân thứ hai, người ta dễ dàng nhận thấy là hoàn toàn không chính đáng. Sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước cộng sản tại Đông Âu, hầu như ai cũng biết chủ nghĩa xã hội đồng nghĩa với áp bức và nghèo đói. Mở rộng chủ nghĩa xã hội từ miền Bắc sang miền Nam, do đó, thực chất là việc xuất cảng áp bức và nghèo đói. Đó là một tai hoạ.

Chỉ có nguyên nhân thứ nhất là cần phân tích kỹ. Trước hết, không ai có thể phủ nhận sự cần thiết của việc thống nhất đất nước, một di sản của tổ tiên từ ngàn đời trước. Đó là một mệnh lệnh của lịch sử, của đạo lý và của tình cảm. Tuy nhiên, vấn đề là: sự thống nhất ấy có thể được thực hiện bằng cách nào và được trả bằng giá nào? Nó có cần thiết để cả nước phải trải qua hai chục năm chiến tranh tàn khốc với trên ba triệu người bị giết chết? Lịch sử cung cấp hai bài học chính: Thứ nhất, Đông Đức và Tây Đức đã được thống nhất mà không cần phải trải qua cuộc chiến tranh nào cả. Thứ hai, Nam và Bắc Triều Tiên đến nay vẫn bị chia cắt. Nhưng sự chia cắt ấy được đền bù bằng mức phát triển cực nhanh và cực cao của Nam Triều Tiên. Sự thống nhất không sớm thì muộn, không bằng cách này thì bằng cách khác cũng sẽ xảy ra, nhưng khi nó xảy ra, Đại Hàn cũng đã có một nền tảng kinh tế và chính trị vững chắc là Nam Triều Tiên (như trường hợp của Tây Đức và Đông Đức). Ở đây, sự chia cắt không có gì đáng phàn nàn hay ân hận cả.

Chúng ta tưởng tượng: nếu miền Bắc đừng phát động chiến tranh thì tình hình chính trị Việt Nam hiện nay sẽ ra sao? Thì tất cả những tai hoạ nêu lên ở phần đầu bài viết này sẽ không có. Thì cả hai miền sẽ có hoà bình và nhờ hoà bình, sẽ được phát triển nhanh chóng. Ngay cả khi hai miền Nam và Bắc chưa được thống nhất thì, tuy về phương diện tình cảm, vẫn là một nỗi nhức nhối, nhưng trên mọi phương diện khác, đó lại là một điều may mắn.

***

NGUỒN: NGUYỄN HƯNG QUỐC BLOG TRÊN VOA
* Blog của Tiến sĩ Nguyễn Hưng Quốc là blog cá nhân. Các bài viết trên blog được đăng tải với sự đồng ý của Ðài VOA nhưng không phản ánh quan điểm hay lập trường của Chính phủ Hoa Kỳ.





dv

4/27/2015

 
Tại sao người Việt ngoài nước vẫn tiếp tục chống cộng sản?



 
Hôm nay được nhìn hình chị Bùi Minh Hằng ra tòa tóc bạc gần hết sau 4 năm tranh đấu và vào tù ra khám, mặc dù mục đích chính của sự tranh đấu của chị là lên tiếng về chủ quyền đảo Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, chúng tôi không khỏi xúc động vì chỉ vài năm trước đó, chị đầy sức sống, tóc còn đen nhánh.
 
Cũng chỉ hơn một năm qua, khi trang mạng hennhausaigon2015.com chưa ngưng hoạt động một thời gian, chúng tôi đã có cơ hội hội luận qua điện thoại với chị qua sự tổ chức của ban quản trị hennhausaigon2015 cho bạn đọc của hennhausaigon2015. Khi ấy chị nói sang sảng, mạch lạc và rất thuận lý khi chị trình bày ý kiến về tình trạng đất nước.
 
Sau đó nghe tin chị bị bắt và đưa ra tòa rồi bị kết án vì tội "yêu nước thương nòi", yêu quê hương của chị. Không thể liên lạc với chị, chúng tôi chỉ cầu mong chị được chân cứng đá mềm, sống sót trong nhà tù CSVN.
 
Một người bạn trẻ sau khi về thăm bà mẹ già đau yếu ở Việt Nam và trở lại nước chị đang tị nạn đã nhận xét rằng, hiện nay trong Việt Nam, rất khó mà tìm được một người Việt Nam tỏ lộ sự ưu tư về đất nước. Chị nhận xét rằng, sau 40 năm CSVN đã thành công trong việc ru ngủ thanh niên, thành công trong việc lừa dối người dân sau 40 năm cai trị , mà người dân không dám phản ứng chống lại. Sự nhận xét đó lại càng làm sáng tỏ hơn sự tranh đấu và hy sinh của chị Bùi Minh Hằng và những người đang tranh đấu giống như chị.
 
Nhưng tiếp tay với chị trong việc lên tiếng nói chống lại sự bán nước của CSVN, có lẽ là một hành động có ý nghĩa nhất để chứng tỏ chị không cô đơn, không lạc lõng trong một xã hội hầu như đã nguội lạnh với những vấn đề đất nước bị Tầu cộng xâm lấn và bị CSVN nhượng bộ cho Tầu cộng.
 
Tiếp tay với chị Bùi  Minh Hằng và những người Việt đang cô đơn tranh đấu  trong nước, trong một môi trường cực kỳ nguy hiểm đến tính mạng, là một điều tối thiểu mà chúng ta, những người đang sống an toàn trong những quốc gia có tự do và dân chủ, phải làm.
 
Cầu mong cho chị Bùi Minh Hằng và gia đình được vạn an.
 
 
Bùi Hồng Lĩnh

Bà Bùi Minh Hằng năm 2015 và hình năm 2011,
sau 4 năm bị tù đầy vì tranh đấu cho một Việt Nam đôc lập, tự do và toàn vẹn lãnh thổ 

 
Bùi Minh Hằng năm 51 tuổi, tóc bạc và trầm tư nhưng vẫn cương quyết,
tuyệt thực trong tù để tiếp tục tranh đấu


 
Bùi Minh Hằng năm 47 tuổi, tinh thần vững mạnh

Bà Bùi Thị Minh Hằng đội nói có 3 chữ tắt HS-TS-VN và đeo khăn quang cổ có hàng chữ “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh-Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam” khi dạo phố Hà Nội hôm Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2011. Bà bị giữ đến ngày Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011 mới được thả. (Hình Ba Sàm Blog)

Tin được phổ biến trên blog của ông Nguyễn Xuân Diện cho hay bà Hằng đã được thả từ Nhà Tù Hỏa Lò mới ở xã Xuân Phương, huyện Từ Liêm, hôm Thứ Tư, 19 tháng 10, 2011.

Bà Bùi Thị Minh Hằng, 47 tuổi, bị bắt giữ sáng ngày Chủ Nhật, 16 tháng 10, 2011 khi trên đầu bà đội chiếc nón lá có hàng chữ tắt HS-TS-VN và khoác một chiếc khăn trên đó có hàng chữ “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh-Hoàng Sa-Trường Sa-Việt Nam.”

Khác với những lần biểu tình chống Trung Quốc trước đây, một số người biểu tình mặc áp thun có hình lưỡi bò bị gạch chéo. Họ không hô khẩu hiệu hay la hét gì. Tất cả đều yên lặng đi nhưng những người dạo chơi quanh hồ.

Dù vậy, nhà cầm quyền cũng đưa lực lượng công an và một bọn người đeo băng đỏ đến cướp khăn, giật nón. Riêng bà Hằng thì bị bắt đi.

Ngày 18 tháng 10, khoảng 30 người đã đến trước trụ sở công an quận Hoàn Kiếm với biểu ngữ đòi trả tự do cho bà Hằng vì theo họ hành động bắt bà Hằng như vậy là trái luật.

Bà Bùi Thị Minh Hằng cũng đã từng bị bắt hôm biểu tình ngày 21 tháng 8, 2011 cùng với một số người và bị giam giữ 5 ngày. (TN)
Bà Bùi Minh Hằng tuyệt thực sang ngày thứ 20, trại giam không cho thăm gặp

Châu Văn Thi
DL - Ngày 27/4/2015, Bùi Trung Nhân con trai bà Bùi Hằng đi thăm mẹ mình là Tù nhân lương tâm Bùi Thị Minh Hằng thì bị trại giam Gia Trung - Gia Lai từ chối cho thăm gặp.

Bà Bùi Hằng trong phiên toà phúc thẩm về tội "Gây rối trật tự công cộng"
 
Sau đó Quỳnh Anh, chị của Nhân thông báo là đã nhận được điện thoại của bà Bùi Hằng cho biết, trại giam Gia Trung - Pleiku đã tịch thu hết quần áo mà bà mang theo từ trại tạm giữ công an Đồng Tháp vì lý do bà không chấp nhận mặc quần áo có đóng dấu "Phạm Nhân" thay vì " Tù Nhân Chính Trị".
Bà còn cho biết trong phòng giam giữ đã gặp phải những áp lực, cũng như gây sự từ phía những người tù nhân bị giam cùng, đã suýt nhiều lần xảy ra xô xát trong phòng giam.
Trần Bùi Trung, con trai bà Bùi Hằng nhận định, động thái này của trại giam Gia Trung- Pleiku, nhằm mục đích cô lập và ép buộc mẹ tôi phải mặc quần áo của nhà tù, và hơn nữa việc xảy ra những xô xát trong phòng giam nhằm tạo một cái cớ hợp lý để ép đem mẹ tôi đi biệt giam, hay còn gọi là " Đi cùm".
Bà Bùi Hằng đã tuyệt thực từ ngày 02-04 đến nay đã hơn 20 ngày để phản đối sự bất công của trại giam và đây cũng là lần thứ 2 khi gia đình bà bị trại giam từ chối không cho thăm gặp và gửi đồ thăm nuôi cho bà.
Anh Trung cũng cho biết thêm thông tin về sức khỏe của bà Hằng hiện nay khá yếu, các chức năng mắt, gan, xương đều suy giảm, nếu không gửi thuốc vào đều, những khả năng xấu có thể sẽ xảy ra.